Hướng dẫn quyền trả lại đơn khởi kiện và nộp lại đơn

Câu hỏi của khách hàng: Hướng dẫn quyền trả lại đơn khởi kiện và nộp lại đơn

Hướng dẫn một số quy định tại khoản 1 và khoản 3 điều 192 bộ luật tố tụng dân sự số 92/2015/qh13 về trả lại đơn khởi kiện, quyền nộp đơn khởi kiện lại vụ án


Luật sư Tư vấn Bộ luật tố tụng dân sự – Gọi 1900.0191

Dựa trên thông tin được cung cấp và căn cứ vào các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành, các cam kết, thỏa thuận quốc tế được ký kết nhân danh Nhà nước, Chính phủ Việt Nam.

1./ Thời điểm tư vấn: 31/10/2018

2./ Cơ sở Pháp Luật điều chỉnh vấn đề Quyền trả lại đơn khởi kiện và nộp lại đơn

  • Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015
  • Nghị quyết 04/2017/NQ-HĐTP hướng dẫn một số quy định tại Khoản 1 và Khoản 3 Điều 192 Bộ luật Tố tụng dân sự về trả lại đơn khởi kiện, quyền nộp đơn khởi kiện lại vụ án.

3./ Luật sư trả lời Hướng dẫn quyền trả lại đơn khởi kiện và nộp lại đơn

Khi một chủ thể (cá nhân hoặc cơ quan, tổ chức) nhận thấy quyền và lợi ích của mình bị một người khác xâm phạm, chủ thể này hoàn toàn có quyền khởi kiện ra Tòa án để các chủ thể có thẩm quyền thực hiện việc điều tra, phân loại, xử lý chủ thể có hành vi xâm phạm đó. Thông thường, khi quyết định khởi kiện ra Tòa án để giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự (trường hợp đúng thẩm quyền, đang được xử lý) mà người khởi kiện rút đơn thì việc khởi kiện lại là không được phép. Tuy nhiên, trong một số trường hợp, chủ thể có quyền khởi kiện lại để bảo đảm quyền lợi hợp pháp. Pháp luật tố tụng có hướng dẫn một số quy định về việc trả lại đơn khởi kiện và quyền nộp đơn khởi kiện lại cụ án như sau:

Thứ nhất, trường hợp trả lại đơn khởi kiện vụ án của thẩm phán:

+Người khởi kiện không đủ năng lực hành vi tố tụng dân sự hoặc người khởi kiện không thuộc đối tượng có quyền khởi kiện vụ án cũng như quyền khởi kiện vụ án dân sự để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác, lợi ích công cộng và lợi ích của nhà nước. Cụ thể:

-Cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền tự mình hoặc thông qua người đại diện hợp pháp khởi kiện để yêu cầu tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Ví dụ: A kiện B vì hành vi lấn chiếm đất ở. Hành vi đó đã xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của A.

Cơ quan quản lý nhà nước về gia đình, cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em, Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có quyền khởi kiện vụ án về hôn nhân và gia đình theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình. Ví dụ: Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam có quyền khởi kiện B về hành vi bạo lực gia đình. B có hành vi đánh đập, bạo hành vợ mình khiến chị nhà bị trầm cảm.

-Tổ chức đại diện tập thể lao động có quyền khởi kiện vụ án lao động trong trường hợp cần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của tập thể người lao động hoặc khi được người lao động ủy quyền theo quy định của pháp luật. Ví dụ: Đại diện tập thể người lao động có quyền đứng ra khởi kiện công ty A về hành vi không trả lương cho công nhân.

-Tổ chức xã hội tham gia bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng có quyền đại diện cho người tiêu dùng khởi kiện bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng hoặc tự mình khởi kiện vì lợi ích công cộng theo quy định của Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.

-Cơ quan, tổ chức trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có quyền khởi kiện vụ án dân sự để yêu cầu Tòa án bảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước thuộc lĩnh vực mình phụ trách hoặc theo quy định của pháp luật.

-Cá nhân có quyền khởi kiện vụ án hôn nhân và gia đình để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người khác theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình. Ví dụ: A mất năng lực hành vi dân sự và bị chồng bạo hành. Mẹ của A có quyền khởi kiện ly hôn cho con khi cho rằng quyền lợi của A bị xâm phạm

+Chưa có đủ điều kiện khởi kiện theo quy định. Đây là trường hợp pháp luật tố tụng dân sự, pháp luật khác có quy định về các điều kiện để cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình hoặc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác, lợi ích công cộng và lợi ích của Nhà nước nhưng người đã khởi kiện đến Tòa án khi còn thiếu một trong các điều kiện đó.

+Đối với sự việc đã được tòa án cấp phúc thẩm giải quyết có hiệu lực pháp giải quyết bằng bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án hoặc quyết định đã có hiệu lực của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, trừ trường hợp vụ án mà Tòa án bác đơn yêu cầu ly hôn, yêu cầu thay đổi nuôi con, thay đổi mức cấp dưỡng, mức bồi thường thiệt hại, yêu cầu thay đổi người quản lý tài sản, thay đổi người quản lý di sản, thay đổi người giám hộ hoặc vụ án đòi tài sản, đòi tài sản cho thuê, cho mượn, đòi nhà, đòi quyền sử dụng đất cho thuê, cho mượn, cho ở nhờ mà Tòa án chưa chấp nhận yêu cầu và theo quy định của pháp luật được quyền khởi kiện lại.

+Có thông báo nộp tiền tạm ứng án phí nhưng quá thời hạn 7 ngày làm việc mà không nộp thì thẩm phán trả lại đơn khởi kiện trừ trường hợp được miễn hoặc có trở ngại khách quan, sự kiện bất khả kháng.

+Vụ án không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Ví dụ: A kết hôn với B thường trú tại quận X, thành phố Y. A làm đơn ly hôn đơn phương khởi kiện lên tòa án quận X thành phố Y thì bị thẩm phán trả lại đơn vì không thuộc thẩm quyền của tòa án quận X. Do hiện nay cả A và B không cư trú, cũng không thường trú tại đó nữa.

+Người khởi kiện không sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện theo yêu cầu của thẩm phán. Trong trường hợp này là do Tòa án ra thông báo sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện nhưng quá thời hạn theo sự ấn định của thẩm phán nhưng không quá 1 tháng, có thể gia hạn nhưng không quá 15 ngày mà người khởi kiện không sửa đổi, bổ sung theo yêu cầu thì thẩm phán trả lại đơn khởi kiện kèm tài liệu, chứng cứ liên quan.

+Người khởi kiện rút đơn khởi kiện: Người khởi kiện có quyền rút đơn khởi kiện khi quyền lợi ích hợp pháp của mình được đảm bảo thì thẩm phán trả lại đơn khởi kiện kèm hồ sơ, tài liệu, chứng cứ kèm theo.

Thứ hai, quyền nộp đơn khởi kiện lại của đương sự:

+Đương sự trước đó bị tòa tuyên mất năng lực hành vi tố tụng dân sự nay được tòa tuyên đã có đủ năng lực hành vi tố tụng dân sự.

+Yêu cầu ly hôn, yêu cầu thay đổi nuôi con, thay đổi mức cấp dưỡng, mức bồi thường thiệt hại, yêu cầu thay đổi người quản lý tài sản, thay đổi người quản lý di sản, thay đổi người giám hộ hoặc vụ án đòi tài sản, đòi tài sản cho thuê, cho mượn, đòi nhà, đòi quyền sử dụng đất cho thuê, cho mượn, cho ở nhờ mà trước đó Tòa án chưa chấp nhận yêu cầu mà theo quy định của pháp luật được quyền khởi kiện lại. Ví dụ: A ly hôn với B có 1 con chung 5 tuổi. Tòa xử A được quyền nuôi con. Nay con đã đủ 7 tuổi B làm đơn yêu cầu tòa thay đổi người nuôi con theo nguyện vọng của con.

+Chủ thể khởi kiện đã đủ điều kiện khởi kiện (trường hợp này bên khởi kiện trước đó phải bị trả lại đơn do khi đó họ không đủ điều kiện khởi kiện).

+Một số trường hợp khác như:

-Vụ án tranh chấp về thừa kế tài sản đã đình chỉ, trả lại đơn do đã hết thời hiệu khởi kiện nhưng theo quy định thì thời hiệu khởi kiện vụ án đó vẫn còn.

-Vụ án dân sự chia tài sản chung là di sản thừa kế đã hết thời hạn 10 năm kể từ thời điểm mở thừa kế mà trước ngày 01-01-2017 Tòa án đã ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án và trả lại đơn khởi kiện vì chưa đủ điều kiện khởi kiện chia tài sản chung, nhưng theo quy định thì thời hiệu khởi kiện vụ án chia thừa kế đối với di sản thừa kế đó vẫn còn.

-Trường hợp quy định tại Khoản 4 Điều 6 Nghị quyết 04/2017/NQ-HĐTP, đó là trường hợp khi thụ lý vụ án, bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không còn cư trú làm việc theo địa chỉ nguyên đơn cung cấp (Tòa án đã yêu cầu nguyên đơn cung cấp địa chỉ mới của bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nhưng nguyên đơn không cung cấp được thì có quyền yêu cầu Tòa án thu thập, xác minh địa chỉ mới của bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan theo quy định của pháp luật nhưng Tòa án không xác định được địa chỉ mới của bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thì tòa án đình chỉ vụ án); trường hợp sau khi thụ lý phát sinh người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đương sự có quyền yêu cầu cung cấp địa chỉ mới người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đó (Đương sự không cung cấp được thì có quyền yêu cầu thu thập, xác minh địa chỉ, trường hợp tòa không xác định được thì đình chỉ vụ án).

Nếu sau khi bị trả lại hồ sơ khởi kiện mà người khởi kiện xác minh được nơi cư trú hoặc nơi làm việc hiện tại của bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thì nguyên đơn có quyền nộp đơn khởi kiện lại.

Trên đây là một số hướng dẫn về quy định tại Khoản 1 và Khoản 3 Điều 192 Bộ luật tố tụng dân sự số 92/2015/QH13 về việc trả lại đơn khởi kiện, quyền nộp đơn khởi kiện lại vụ án của các chủ thể có thẩm quyền.

Với những tư vấn trên, Công ty Luật LVN mong rằng đã có thể giải đáp được nhu cầu của quý khách, nếu quý khách vẫn còn chưa rõ hoặc có thông tin mới với trường hợp này, quý khách có thể liên hệ Bộ phận Tư vấn pháp luật Miễn phí số: 1900.0191 để được Luật sư hỗ trợ ngay lập tức.


TỔNG ĐÀI LUẬT SƯ 1900 0191 - GIẢI ĐÁP PHÁP LUẬT TRỰC TUYẾN MIỄN PHÍ MỌI LÚC MỌI NƠI
Trong mọi trường hợp do tính cập nhật của văn bản biểu mẫu pháp luật và sự khác nhau của từng tình huống, việc tự áp dụng sẽ dẫn đến hậu quả không mong muốn.
Để được tư vấn hướng dẫn trực tiếp cho tất cả các vướng mắc, đưa ra lời khuyên pháp lý an toàn nhất, quý khách vui lòng liên hệ Luật sư - Tư vấn pháp luật qua điện thoại 24/7 (Miễn phí) số: 1900.0191 để gặp Luật sư, Chuyên viên tư vấn pháp luật.

Bộ phận tư vấn pháp luật – Công ty luật LVN

1900.0191