Trang chủ - Chưa xóa án tích mà bị bắt vì trộm cắp tài sản thì có phải đi tù không

Chưa xóa án tích mà bị bắt vì trộm cắp tài sản thì có phải đi tù không

Câu hỏi của khách hàng: Chưa xóa án tích mà bị bắt vì trộm cắp tài sản thì có phải đi tù không

Luật sư giúp cháu với. Chồng cháu chưa xóa án tích, này lại bị bắt vì tội trộm cắp, như khi bị bắt là đang đi đường chứ không phải đang trộm cắp gì. Sau khi giải về Phường, hôm sau công an lại cho đi trại cai nghiện, đến giờ là 4 hôm mà chưa được gặp, cũng không có tin tức gì. Vậy luật sư cho cháu hỏi, chồng cháu chỉ phải đi cai nghiện hay vẫn bị đi tù và đi tù thì đi bao năm, án tích chưa xóa có bị tăng nặng mức phạt không ạ, cháu cảm ơn.


Luật sư Tư vấn Bộ luật hình sự – Gọi 1900.0191

Dựa trên thông tin được cung cấp và căn cứ vào các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành, các cam kết, thỏa thuận quốc tế được ký kết nhân danh Nhà nước, Chính phủ Việt Nam.

1./ Thời điểm tư vấn: 24/10/2018

2./ Cơ sở Pháp Luật điều chỉnh vấn đề Hình phạt đối với người phạm tội khi chưa được xóa án tích

Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017

3./ Luật sư trả lời Chưa xóa án tích mà bị bắt vì trộm cắp tài sản thì có phải đi tù không

Trộm cắp là một hành vi phạm tội khi một người hoặc một nhóm người lén lút, bí mật chiếm đoạt tài sản của người khác một cách trái pháp luật, đối tượng tác động có thể là tiền, dịch vụ, thông tin,…mà không có sự cho phép của chủ nhân. Trộm cắp tài sản là hành vi nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền sở hữu của người khác. Tùy vào hậu quả của hành vi mà người có hành vi trộm cắp sẽ bị xử lý hành chính hoặc hình sự.

Trước hết, bạn phải tìm hiểu chồng của bạn bị bắt vì lý do gì, có phải là do phạm tội trộm cắp tài sản hay không. Tuy nhiên, dù vì lý do gì, thì việc chồng bạn bị đưa vào trại cai nghiện cũng không phải là yếu tố để chồng của bạn không phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi mà chồng của bạn đã thực hiện.

Nếu, chồng của bạn bị bắt và xử lý về tội trộm cắp tài sản. Các nhận định tiếp theo sẽ dựa trên các căn cứ sau:

Điều 173 Bộ luật hình sự có quy định về tội trộm cắp tài sản như sau:

1.Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm: 

a)Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm; 

b)Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 174, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm; 

c)Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội; 

d)Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ; 

đ)Tài sản là di vật, cổ vật.

2.Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm: 

a)Có tổ chức; 

b)Có tính chất chuyên nghiệp; 

c)Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng; 

d)Dùng thủ đoạn xảo quyệt, nguy hiểm; 

đ)Hành hung để tẩu thoát; 

e)Tài sản là bảo vật quốc gia; 

g)Tái phạm nguy hiểm. …

Theo đó, việc chưa được xóa án tích cũng có thể là một tình tiết khiến người có hành vi bị tăng nặng mức phạt (ở đây là tăng khung hình phạt). Tuy nhiên, án tích chưa được xóa trong trường hợp trên phải là án tích về tội cướp tài sản, tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản, tội cưỡng đoạt tài sản, tội cướp giật tài sản, tội công nhiên chiếm đoạt tài sản, tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản hoặc tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản.

Nếu án tích của người có hành vi vi phạm không thuộc một trong các trường hợp trên thì yếu tố chưa được xóa án tích cũng có thể là yếu tố tăng nặng trách nhiệm hình sự. Đó là trong trường hợp, hành vi phạm tội bị coi là tái phạm hoặc tái phạm nguy hiểm theo quy định tại điểm h Khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự:

 “Điều 52. Các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự

1.Chỉ các tình tiết sau đây mới là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:

… h)Tái phạm hoặc tái phạm nguy hiểm;

… 2.Các tình tiết đã được Bộ luật này quy định là dấu hiệu định tội hoặc định khung hình phạt thì không được coi là tình tiết tăng nặng.”

Căn cứ Điều 53 Bộ luật hình sự:

Điều 53. Tái phạm, tái phạm nguy hiểm

1.Tái phạm là trường hợp đã bị kết án, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý hoặc thực hiện hành vi phạm tội về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do vô ý.

2.Những trường hợp sau đây được coi là tái phạm nguy hiểm:

a)Đã bị kết án về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do cố ý, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do cố ý;

b)Đã tái phạm, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý.”

Như vậy, với những chi tiết bạn đưa ra thì chưa thể xác định được yếu tố “chưa được xóa án tích” có làm chồng của bạn bị tăng nặng mức phạt không. Ngoài ra, việc chồng của bạn phải đi cai nghiện bắt buộc không phải là yếu tố để chồng của bạn được miễn trách nhiệm hình sự về hành vi mà chồng của bạn thực hiện.

Với những tư vấn trên, Công ty Luật LVN mong rằng đã có thể giải đáp được nhu cầu của quý khách, nếu quý khách vẫn còn chưa rõ hoặc có thông tin mới với trường hợp này, quý khách có thể liên hệ Bộ phận Tư vấn pháp luật Miễn phí số: 1900.0191 để được Luật sư hỗ trợ ngay lập tức.


TỔNG ĐÀI LUẬT SƯ 1900 0191 - GIẢI ĐÁP PHÁP LUẬT TRỰC TUYẾN MIỄN PHÍ MỌI LÚC MỌI NƠI
Trong mọi trường hợp do tính cập nhật của văn bản biểu mẫu pháp luật và sự khác nhau của từng tình huống, việc tự áp dụng sẽ dẫn đến hậu quả không mong muốn.
Để được tư vấn hướng dẫn trực tiếp cho tất cả các vướng mắc, đưa ra lời khuyên pháp lý an toàn nhất, quý khách vui lòng liên hệ Luật sư - Tư vấn pháp luật qua điện thoại 24/7 (Miễn phí) số: 1900.0191 để gặp Luật sư, Chuyên viên tư vấn pháp luật.

Bộ phận tư vấn pháp luật – Công ty luật LVN

1900.0191