Trang chủ - Hai lần thu hồi đất có được gộp tổng diện tích đất thu hồi lại để bồi thường không

Hai lần thu hồi đất có được gộp tổng diện tích đất thu hồi lại để bồi thường không

Câu hỏi của khách hàng: Hai lần thu hồi đất có được gộp tổng diện tích đất thu hồi lại để bồi thường không

Kính chào các Luật sư !~ Mong mọi người tư vấn cho tôi, tôi xin cám ơn nhiều ạ! Tình huống như sau :
Năm 2007 Ông A bị UBND Huyện T thu hồi 5ha đất Nông nghiệp (BHK) tại xã X để giao cho 1 công ty làm đồng muối , và bồi thường cho gia đình ông A với số tiền 50 triệu 1 ha .
Năm 2018 UBND Huyện T lại thu hồi của nhà ông A 1,5 ha đất Nông nghiệp (BHK) ở xã Y. Nguồn gốc đất của ông A đều khai hoang trước năm 1975 , sản xuất ổn định , không tranh chấp .
Xin hỏi diện tích năm 2018 thu hồi 1,5 ha nhưng UBND Huyện T mang cộng với diện tích thu hồi năm 2007 ( 5ha ) thành 6,5 ha để tính cho hộ ông A bị vượt hạn điền nhằm không bồi thường về đất (1,5 ha ) cho gia đình ông A như vậy có đúng không? Gia đình ông A chỉ còn mảnh đất nông nghiệp này là cuối cùng , nghĩa là làm nông dân nhưng đã bị thu hồi 100% đất nông nghiệp. Vì vậy gia đình ông A có được hỗ trợ ổn định đời sống , chuyển đổi nghề nghiệp , đào tạo nghề…. không ạ? Xin các Luật sư tư vấn giúp tôi xin cám ơn !


Luật sư Tư vấn Luật đất đai – Gọi 1900.0191

Dựa trên thông tin được cung cấp và căn cứ vào các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành, các cam kết, thỏa thuận quốc tế được ký kết nhân danh Nhà nước, Chính phủ Việt Nam.

1./ Thời điểm tư vấn: 13/11/2018

2./ Cơ sở Pháp Luật điều chỉnh vấn đề Tính diện tích đất thu hồi lần hai

  • Luật đất đai năm 2013
  • Nghị định 47/2014/NĐ-CP quy định về bồi thường, hỗ trợ

3./ Luật sư trả lời Hai lần thu hồi đất có được gộp tổng diện tích đất thu hồi lại để bồi thường không

Theo quy định của pháp luật đất đai thì khi Nhà nước  thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế – xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng, Nhà nước sẽ phải bồi thường, hỗ trợ, tái định cư cho người sử dụng đất theo quy định. Trong trường hợp, một đối tượng sử dụng đất bị thu hồi đất hai lần vì mục đích khác nhau thì việc bồi thường, hỗ trợ và tái định cư cho đối tượng này phải được thực hiện như hai lần riêng biệt.

Căn cứ Điều 74 Luật đất đai:

Điều 74. Nguyên tắc bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất

1.Người sử dụng đất khi Nhà nước thu hồi đất nếu có đủ điều kiện được bồi thường quy định tại Điều 75 của Luật này thì được bồi thường.

2.Việc bồi thường được thực hiện bằng việc giao đất có cùng mục đích sử dụng với loại đất thu hồi, nếu không có đất để bồi thường thì được bồi thường bằng tiền theo giá đất cụ thể của loại đất thu hồi do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định tại thời điểm quyết định thu hồi đất.

3.Việc bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất phải bảo đảm dân chủ, khách quan, công bằng, công khai, kịp thời và đúng quy định của pháp luật.

Điều 75 Luật đất đai quy định:

Điều 75. Điều kiện được bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế – xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng

1.Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất không phải là đất thuê trả tiền thuê đất hàng năm, có đủ điều kiện để được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của Luật này mà chưa được cấp, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 77 của Luật này;

Khoản 2 Điều 77 Luật đất đai quy định như sau:

“2.Đối với đất nông nghiệp đã sử dụng trước ngày 01 tháng 7 năm 2004 mà người sử dụng đất là hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp nhưng không có Giấy chứng nhận hoặc không đủ điều kiện để được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của Luật này thì được bồi thường đối với diện tích đất thực tế đang sử dụng, diện tích được bồi thường không vượt quá hạn mức giao đất nông nghiệp quy định tại Điều 129 của Luật này.”

Nói cách khác, việc bồi thường này được đặt ra khi Nhà nước thu hồi đất theo quy định. Người sử dụng đất sẽ được bồi thường khi trường hợp của họ đáp ứng đủ điều kiện để được hưởng bồi thường đất. Việc bồi thường không chịu  ảnh hưởng của việc đó là lần thu hồi thứ mấy.

Ngoài ra, về việc được hỗ trợ ổn định đời sống và sản xuất, hỗ trợ tạo, chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm, hỗ trợ khác,… theo quy định tại Khoản 2 Điều 83 Luật đất đai. Về cơ bản, nếu phần đất trên được Ủy ban xã công nhận là đất đang được ông A trực tiếp sản xuất nông nghiệp thì khi thu hồi phần đất trên (là toàn bộ số đất sản xuất nông nghiệp của ông A) thì ông A sẽ được hỗ trợ ổn định đời sống và sản xuất theo quy định tại Điều 19 Nghị định 47/2014/NĐ-CP, được hỗ trợ đào tạo, chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm theo quy định tại Điều 21 Nghị định 47/2014/NĐ-CP.

Như vậy, trong trường hợp của bạn, trong lần thu hồi đất thứ hai, ông A vẫn sẽ được hưởng các chế độ bồi thường, hỗ trợ nếu đáp ứng điều kiện để được bồi thường, hỗ trợ. Diện tích đất thu hồi tính bồi thường, hỗ trợ sẽ không bị tính gộp vào lần thu hồi thứ nhất.

Với những tư vấn trên, Công ty Luật LVN mong rằng đã có thể giải đáp được nhu cầu của quý khách, nếu quý khách vẫn còn chưa rõ hoặc có thông tin mới với trường hợp này, quý khách có thể liên hệ Bộ phận Tư vấn pháp luật Miễn phí số: 1900.0191 để được Luật sư hỗ trợ ngay lập tức.


TỔNG ĐÀI LUẬT SƯ 1900 0191 - GIẢI ĐÁP PHÁP LUẬT TRỰC TUYẾN MIỄN PHÍ MỌI LÚC MỌI NƠI
Trong mọi trường hợp do tính cập nhật của văn bản biểu mẫu pháp luật và sự khác nhau của từng tình huống, việc tự áp dụng sẽ dẫn đến hậu quả không mong muốn.
Để được tư vấn hướng dẫn trực tiếp cho tất cả các vướng mắc, đưa ra lời khuyên pháp lý an toàn nhất, quý khách vui lòng liên hệ Luật sư - Tư vấn pháp luật qua điện thoại 24/7 (Miễn phí) số: 1900.0191 để gặp Luật sư, Chuyên viên tư vấn pháp luật.

Bộ phận tư vấn pháp luật – Công ty luật LVN

1900.0191