Trang chủ - [Hỏi đáp Wiki Luật] Tư vấn cho tôi về việc làm đơn tố cáo tội cố ý gây thương tích?

[Hỏi đáp Wiki Luật] Tư vấn cho tôi về việc làm đơn tố cáo tội cố ý gây thương tích?

Câu hỏi:

Cố ý gây thương tích

Ngày 27/5/2015 con trai của bạn tôi bị đánh. Tôi đứng ra can thiệp và bị một nhóm 6 người chém vào đầu, phải khâu 5 mũi và điều trị trong bệnh viện 8 ngày. Nay, những gia đình kia bồi thường cho tôi 18 triệu đồng và tôi đã rút đơn kiện. Nhưng nay tôi thấy số tiền đó chưa bồi thường thỏa đáng so với sức khỏe của tôi bị thiệt hại. Vậy tôi có thể làm đơn để kiện lại những người đã đánh tôi và yêu cầu bồi thường lại cho tôi hay không?

 

 

Trả lời:

Trường hợp mà bạn nêu, cần xác định rõ hai loại trách nhiệm pháp lý là trách nhiệm hình sự và trách nhiệm dân sự.

1. Đối với trách nhiệm hình sự

Theo quy định tại khoản 1 Điều 105 của Bộ luật tố tụng hình sự thì những vụ án về các tội phạm được quy định tại khoản 1 các điều 104, 105, 106, 108, 109, 111, 113, 121, 122, 131 và 171 của Bộ luật hình sự chỉ được khởi tố khi có yêu cầu của người bị hại hoặc của người đại diện hợp pháp của người bị hại là người chưa thành niên, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất. Trường hợp của bạn nêu, tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người kháctheo quy định tại Điều 104 của Bộ luật hình sự chỉ được khởi tố nếu như có yêu cầu của bạn là người bị hại.

Tuy nhiên, theo quy định tại khoản 2 Điều 105 của Bộ luật tố tụng hình sự thì “Trong trường hợp người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu trước ngày mở phiên tòa sơ thẩm thì vụ án phải được đình chỉ. Trong trường hợp có căn cứ để xác định người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu khởi tố trái với ý muốn của họ do bị ép buộc, cưỡng bức thì tuy người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu, cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án vẫn có thể tiếp tục tiến hành tố tụng đối với vụ án. Người bị hại rút yêu cầu khởi tố thì không có quyền yêu cầu lại, trừ trường hợp rút yêu cầu do bị ép buộc, cưỡng bức”.

2. Đối với trách nhiệm dân sự

Theo quy định tại khoản 1 Điều 604 của Bộ luật dân sự thì người nào do lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của cá nhân, xâm phạm danh dự, uy tín, tài sản của pháp nhân hoặc chủ thể khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường.

Nguyên tắc bồi thường thiệt hại được thực hiện theo quy định tại Điều 605 của Bộ luật dân sự. Trường hợp của bạn, các khoản bồi thường thiệt hại do sức khoẻ bị xâm phạm theo quy định tại Điều 609 bao gồm: (1) Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khoẻ và chức năng bị mất, bị giảm sút của người bị thiệt hại; (2) Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại; nếu thu nhập thực tế của người bị thiệt hại không ổn định và không thể xác định được thì áp dụng mức thu nhập trung bình của lao động cùng loại; (3) Chi phí hợp lý và phần thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian điều trị; nếu người bị thiệt hại mất khả năng lao động và cần có người thường xuyên chăm sóc thì thiệt hại bao gồm cả chi phí hợp lý cho việc chăm sóc người bị thiệt hại. Ngoài các khoản nêu trên, người xâm phạm sức khỏe của người khác phải bồi thường một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần. Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thoả thuận; nếu không thoả thuận được thì mức tối đa không quá ba mươi tháng lương tối thiểu do Nhà nước quy định.

Bạn có thể căn cứ các quy định nêu trên để xác định mức bồi thường mà mình được hưởng. Trường hợp bạn và bên gây thiệt hại đã ký vào biên bản thỏa thuận, nhưng mức bồi thường không phù hợp với thiệt hại mà bạn phải gánh chịu và quy định của pháp luật thì bạn có thể yêu cầu thỏa thuận lại. Nếu không thỏa thuận được thì có thể gửi đơn đến Tòa án để yêu cầu giải quyết.

Các văn bản liên quan:

Bộ luật 33/2005/QH11 Dân sự

Bộ luật 15/1999/QH10 Hình sự

Bộ luật 19/2003/QH11 Tố tụng hình sự


 

 

 

Wiki Luật kính đáp!

    Câu trả lời trên chỉ mang tính chất tham khảo nằm trong khuôn khổ phạm vi nội dung câu hỏi mà quý khách gửi tới. Đối với trường hợp cụ thể hơn hoặc xuất hiện các tình tiết pháp lý khác thì các văn bản pháp luật điều chỉnh trên đây có thể không được áp dụng hoặc đã hết hiệu lực và được thay thế bằng văn bản khác.

    Để giải quyết nhanh chóng, chính xác những vướng mắc đang mắc phải hay nhu cầu tư vấn hỗ trợ pháp luật, quý khách vui lòng liên hệ trực tiếp với chúng tôi, yêu cầu của quý khách sẽ được chuyển đến các luật sư đầu ngành trong từng lĩnh vực cùng trực tiếp trao đổi và giải đáp.

    Chúng tôi rất mong được phục vụ, hợp tác cùng Quý khách!
Xin gửi đến Quý khách hàng lời chúc Sức khỏe, Hạnh phúc, Thành công và lời chào trân trọng nhất./.

Bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến!

Tham khảo thêm:


TỔNG ĐÀI LUẬT SƯ 1900 0191 - GIẢI ĐÁP PHÁP LUẬT TRỰC TUYẾN MIỄN PHÍ MỌI LÚC MỌI NƠI
Trong mọi trường hợp do tính cập nhật của văn bản biểu mẫu pháp luật và sự khác nhau của từng tình huống, việc tự áp dụng sẽ dẫn đến hậu quả không mong muốn.
Để được tư vấn hướng dẫn trực tiếp cho tất cả các vướng mắc, đưa ra lời khuyên pháp lý an toàn nhất, quý khách vui lòng liên hệ Luật sư - Tư vấn pháp luật qua điện thoại 24/7 (Miễn phí) số: 1900.0191 để gặp Luật sư, Chuyên viên tư vấn pháp luật.

Bộ phận tư vấn pháp luật – Công ty luật LVN

1900.0191