Trang chủ - Tài sản riêng nhưng chưa làm tách hộ khẩu có phải chia cho tất cả những người trong hộ khẩu

Tài sản riêng nhưng chưa làm tách hộ khẩu có phải chia cho tất cả những người trong hộ khẩu

Câu hỏi của khách hàng: Tài sản riêng nhưng chưa làm tách hộ khẩu có phải chia cho tất cả những người trong hộ khẩu

 Ai biết giúp mình với
‘Gia đình cháu từ thời ông bà đã chia cho các cô bác đất riêng! Riêng phần nhà cháu để giấy tờ đất cá nhân của ba cháu, nhưng lúc sống ba cháu không chịu làm sổ đỏ.. Mà hộ khẩu 1995 lại còn có cả bác họ, các bác, anh chị họ… Bây giờ ba cháu mất, ra xã người ta bảo đó là tài sản chung phải chia đều cho người có tên trong hộ khẩu… Cháu biết nếu họ xác nhận đó là tài sản riêng của ba cháu thì ok, nhưng khổ nổi ba mất thì gia đình không thuận, nếu nói ra họ sẽ quyết tâm tranh chấp cho bằng được! Nhưng cháu không hiểu tại sao vì không tách hộ khẩu mà tài sản đã chia cho ba cháu thành tài sản chung như vậy


Luật sư Tư vấn Bộ luật dân sự – Gọi 1900.0191

Dựa trên thông tin được cung cấp và căn cứ vào các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành, các cam kết, thỏa thuận quốc tế được ký kết nhân danh Nhà nước, Chính phủ Việt Nam.

1./ Thời điểm tư vấn: 24/10/2018

2./ Cơ sở Pháp Luật điều chỉnh vấn đề Giá trị của hợp đồng tặng cho bất động sản

Bộ luật dân sự năm 1995

3./ Luật sư trả lời Tài sản riêng nhưng chưa làm tách hộ khẩu có phải chia cho tất cả những người trong hộ khẩu

Hợp đồng tặng cho tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên tặng cho giao tài sản của mình và chuyển quyền sở hữu cho bên được tặng cho mà không yêu cầu đền bù, bên được tặng cho đồng ý nhận. Trong trường hợp bạn đưa ra thì thực chất ông của bạn đã tặng cho bố của bạn phần đất trên. Tuy nhiên, quyền sở hữu phần đất trên sẽ được xác định như sau:

Trước hết, về văn bản pháp luật được áp dụng, bạn chưa nêu rõ thời điểm mà ông bà của bạn thỏa thuận sẽ cho bố của bạn phần đất trên nên bạn cần xác định lại thời điểm này để lựa chọn luật áp dụng.

Giả sử, nếu ông bà của bạn quyết định cho bố của bạn phần đất trên từ ngày 1/7/1996 đến hết ngày 31 tháng 12 năm 2006 thì căn cứ Điều 463 Bộ luật dân sự năm 1995:

“Điều 463. Tặng cho bất động sản

1-Tặng cho bất động sản phải được lập thành văn bản có chứng nhận của Công chứng nhà nước hoặc có chứng thực của Uỷ ban nhân dân cấp có thẩm quyền và phải đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền, nếu theo quy định của pháp luật bất động sản phải đăng ký quyền sở hữu.

2-Hợp đồng tặng cho bất động sản có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký;

nếu bất động sản không phải đăng ký quyền sở hữu, thì hợp đồng tặng cho có hiệu lực kể từ thời điểm nhận tài sản.”

Theo đó, việc ông bà bạn tặng cho bố bạn phần đất trên bằng miệng sẽ không làm phát sinh quyền sở hữu của bố của bạn. Sau khi ông của bạn mất thì phần đất trên được xác định là di sản thừa kế. Bố của bạn được xác định là người quản lý di sản thừa kế trên theo sự thỏa thuận với những người thừa kế khác.

Tương tự với các thời điểm khác. Tuy nhiên, pháp luật dân sự trước nay có quy định việc tặng cho bất động sản phải được lập thành văn bản. Nói cách khác, hợp đồng tặng cho phần đất này bằng miệng sẽ không phát sinh hiệu lực pháp luật.

Để xác lập quyền sở hữu của bố bạn với phần đất trên thì bạn phải chứng minh được trước đó giữa bố bạn và những người thừa kế khác đã thỏa thuận được với nhau về việc bố của bạn sẽ là chủ sở hữu phần đất này.

Nói đúng ra thì việc không tách hộ khẩu không phải là yếu tố làm mất quyền sở hữu của bố bạn đối với mảnh đất trên. Mà nếu bố của bạn tách hộ khẩu, bố của bạn sẽ được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với phần đất này và được xác định là chủ sở hữu duy nhất nếu không đứng tên đồng sở hữu với những người khác. Khi đó, Giấy chứng nhận này sẽ là một bằng chứng chứng minh việc bố bạn là chủ sở hữu duy nhất của mảnh đất.

Khi chưa tách hộ khẩu, không có giấy chứng nhận quyền sử dụng mảnh đất trên là tài sản thuộc sở hữu riêng của bố bạn thì đồng nghĩa với việc bố của bạn chưa chứng minh được đây là tài sản riêng. Là tài sản đã được những chủ sở hữu khác công nhận là tài sản riêng của bố bạn.

Nói tóm lại, trong trường hợp của bạn thì việc bố của bạn được ông bà tặng cho miệng phần đất, không được lập thành văn bản có công chứng, chứng thực sẽ không có giá trị. Phần đất trên được xác định là di sản của ông bà bạn sau khi mất và sẽ được chia đều cho những người thừa kế khác. Phần đất trên sẽ chỉ được xác định là tài sản riêng của bố bạn nếu bạn chứng minh được rằng trước đó, giữa bố của bạn và những người thừa kế khác đã có thỏa thuận theo quy định của pháp luật về việc phần đất này sẽ thuộc sở hữu riêng của bố của bạn. Bạn cần xem xét kĩ các giấy tờ mà bố của bạn để lại, xem có thể chứng minh quyền sở hữu cá nhân của bố bạn với mảnh đất đó không, nếu đủ thì bạn yên tâm rằng mảnh đất đó sẽ không phải chia cho những người trong hộ khẩu. Nhưng nếu không đủ căn cứ chứng minh thì mảnh đất sẽ được chia theo quy định của pháp luật cho những người  thừa kế.

Như vậy, trong trường hợp của bạn, phần đất trên của bố bạn vẫn được xác định là tài sản chung là hoàn toàn hợp pháp do hợp đồng tặng cho phần đất này giữa ông bà của bạn và bố của bạn không phát sinh hiệu lực. Nhưng bạn có thể chứng minh việc trước đó bố bạn đã được những người thừa kế đồng ý cho bố bạn là chủ sở hữu duy nhất của phần đất đó (bằng văn bản chia thừa kế có chứng thực chẳng hạn) để hiện tại phần đất này không bị xem là phần đất chung.

Với những tư vấn trên, Công ty Luật LVN mong rằng đã có thể giải đáp được nhu cầu của quý khách, nếu quý khách vẫn còn chưa rõ hoặc có thông tin mới với trường hợp này, quý khách có thể liên hệ Bộ phận Tư vấn pháp luật Miễn phí số: 1900.0191 để được Luật sư hỗ trợ ngay lập tức.


TỔNG ĐÀI LUẬT SƯ 1900 0191 - GIẢI ĐÁP PHÁP LUẬT TRỰC TUYẾN MIỄN PHÍ MỌI LÚC MỌI NƠI
Trong mọi trường hợp do tính cập nhật của văn bản biểu mẫu pháp luật và sự khác nhau của từng tình huống, việc tự áp dụng sẽ dẫn đến hậu quả không mong muốn.
Để được tư vấn hướng dẫn trực tiếp cho tất cả các vướng mắc, đưa ra lời khuyên pháp lý an toàn nhất, quý khách vui lòng liên hệ Luật sư - Tư vấn pháp luật qua điện thoại 24/7 (Miễn phí) số: 1900.0191 để gặp Luật sư, Chuyên viên tư vấn pháp luật.

Bộ phận tư vấn pháp luật – Công ty luật LVN

1900.0191