Trang chủ - Thụ lý vụ án hành chính

Thụ lý vụ án hành chính

MỤC LỤC …………………………………………………………………………………………………..1

LỜI NÓI ĐẦU……………………………………………………………………………………………..2

CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN-PHÁP LÝ VỀ THỤ LÝ ÁN HÀNH CHÍNH

  • Khái niêm, đặc điểm, vị trí và vai trò của thụ lý vụ án hành chính ………………..3
    • Khái niệm vụ án hành chính ………………………………………………………………. 3
    • Đặc điểm vụ án hành chính ……………………………………………………………….. 3
    • Vị trí, vai trò của thụ lý vụ án hành chính …………………………………………… 5
  • Quy định của pháp luật hiện hành về thụ lý vụ án hành chính …………………….. 6
    • Nhận, xem xét và yêu cầu sửa đổi đơn khởi kiện …………………………………….6
    • Trả lại đơn khởi kiện ……………………………………………………………………………6
    • Điều kiện thụ lý vụ án hành chính …………………………………………………………9
    • Thụ lý vụ án hành chính …………………………………………………………………….14
    • Phân công Thẩm phán giải quyết vụ án ………………………………………………..15
    • Thông báo về việc thụ lý vụ án ……………………………………………………………15
    • Quyền và nghĩa vụ của người được thông báo ………………………………………16

CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC THỤ LÝ VỤ ÁN HÀNH CHÍNH

2.1 Thực trạng thụ lý vụ án hành chính ………………………………………………………….17

2.1.1 Tình hình thụ lý vụ án hành chính …………………………………………………………17

2.1.2 Nguyên nhân của hạn chế …………………………………………………………………….20

2.2 Một số giải pháp hoàn thiện công tác thụ lý vụ án hành chính ………………………23

KẾT LUẬN ……………………………………………………………………………………………….29

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ……………………………………………………..30

 

 

 

 

 

 

 

 

LỜI NÓI ĐẦU

Ngay từ khi chính quyền dân chủ nhân dân được thành lập (2/9/1945) Đảng và Nhà nước ta đã chú trọng công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo nói chung và giải quyết các khiếu kiện hành chính nói riêng. Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân, mãi đến năm 1996, Tòa hành chính mới được thành lập. Việc ra đời của Tòa hành chính là đáp ứng yêu cầu đổi mới phương thức giải quyết khiếu kiện hành chính, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức ngăn chặn hành vi vi phạm pháp luật từ phía cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền trong cơ quan Nhà nước. Cùng với sự thành lập của Tòa hành chính thì Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án hành chính được thông qua tạo điều kiện để cá nhân, cơ quan tổ chức thực hiện quyền của mình.  Nhận thấy vai trò cũng như trách nhiệm cao cả của mình, từ khi chính thức đi vào hoạt động đến nay, hoạt động tố tụng hành chính được thực hiện ngày càng  hiệu quả, đáp ứng mong mỏi của người dân. Đặc biệt là Luật tố tụng hành chính 2010 có hiệu lực đã giải quyết được nhiều hạn chế còn tồn tại của Pháp lệnh càng khiến hoạt động này phát triển theo hướng tích cực.

Tuy nhiên, hoạt động tố tụng hành chính vẫn còn nhiều khó khăn, vướng mắc cần được tháo gỡ trong thời gian tới. Một trong những điểm hạn chế còn tồn tại là tình trạng án bị hủy, bị sửa còn nhiều. Vì vậy, trong thời gian tới, việc nghiên cứu sửa đổi pháp luật về tố tụng hành chính nhằm giúp hoạt động này tăng chất lượng cần được quan tâm đúng mức. Theo đó,  cần phải bắt đầu từ những giai đoạn đầu trong quá trình tố tụng mà giai đoạn thụ lý vụ án hành chính là giai đoạn quan trọng, có tác động đến toàn bộ quá trình tố tụng. Vì vậy, tìm hiểu quy định của pháp luật về thụ lý vụ án hành chính và thực trạng áp dụng pháp luật là vấn đề mang tính cấp thiết. Từ đó, đưa ra giải pháp khắc phục nhằm đưa hoạt động thụ lý vụ án hành chính nói riêng và hoạt động tố tụng hành chính nói chung đạt hiệu quả cao là yêu cầu đặt ra hiện nay.

 

 

CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN-PHÁP LÝ CỦA THỤ LÝ VỤ ÁN HÀNH CHÍNH.

1.1 Khái niệm, đặc điểm, vị trí và vai trò của thụ lý vụ án hành chính

1.1.1 Khái niệm vụ án hành chính

Để làm rõ khái niệm thế nào là thụ lý vụ án hành chính chúng ta cần làm rõ hai khái niệm đó là thế nào là thụ lý và thế nào là vụ án hành chính.

  • Theo từ điển Tiếng Việt của Trung tâm ngôn ngữ học- Viện ngôn ngữ học thì “thụ lý” là “việc tiếp nhận giải quyết vụ kiện”. Còn theo cách giải thích của cuốn Hán Việt từ điển thì “thụ lý” là “việc chấp nhận án kiện để phân xử”. Như vậy cả hai khái niệm trên đều chỉ ra rằng thụ lý là sự trả lời của cơ quan, người có thẩm quyền về việc chấp nhận giải quyết yêu cầu của người yêu cầu về một vụ việc cụ thể.
  • Vụ án hành chính là vụ án được phát sinh tại tòa án có thẩm quyền theo quy định của pháp luật tố tụng hành chính, do cá nhân, cơ quan nhà nước hoặc tố chức khởi kiện yêu cầu tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình (Theo Giáo trình Luật tố tụng hành chính – Đại học quốc gia Hà Nội).

Từ hai khái niệm trên, chúng ta có thể tựu chung lại: Thụ lý vụ án hành chính là hành vi tố tụng của Tòa án có thẩm quyền chấp nhận giải quyết khiếu kiện hành chính, được xác định bằng hành vi ghi vào sổ thụ lý vụ án và thông báo bằng văn bản cho đương sự biết Tòa án đã thụ lý vụ án sau khi xem xét điều kiện khởi kiện và điều kiện thụ lý vụ án. Như vậy việc thụ lý là quyền, nghĩa vụ của Tòa án. Sau khi có đơn khởi kiện được gửi tới thì Tòa án sẽ tiến hành xem xét đơn khởi kiện đó có đáp ứng đủ các điều kiện để thụ lý vụ án hay không để đưa ra quyết định. Các điều kiện đó bao gồm điều kiện khởi kiện (chủ thể khởi kiện, đối tượng khởi kiện, thời hiệu khởi kiện) và các điều kiện khác như hình thức, thủ tục nộp đơn, nhận đơn khởi kiện, tạm ứng án phí, thẩm quyền giải quyết của Tòa án.

Giữa khởi kiện và thụ lý vụ án hành chính có mối quan hệ chặt chẽ với nhau bởi lẽ khởi kiện là cơ sở để Tòa án thụ lý vụ án, không có khởi kiện sẽ không có thụ lý. Vì vậy khởi kiện là sự kiện pháp lý làm phát sinh mối quan hệ giữa người khởi kiện và Tòa án, là giai đoạn đầu tiên bắt đầu cho quá trình tố tụng sau này. Và việc khởi kiện đó có được thụ lý hay không lại phụ thuộc vào hoạt động thụ lý của Tòa án. Tòa án chỉ thụ lý đơn khởi kiện khi đơn khởi kiện đó thỏa mãn các điều kiện luật định.

1.1.2 Đặc điểm thụ lý vụ án hành chính

Nếu như khởi kiện là quyền của cá nhân, cơ quan, tổ chức khi thấy quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm thì thụ lý thể hiện là quyền và nghĩa vụ của Tòa án. Đây là hoạt động bắt buộc nhằm phát sinh quan hệ tố tụng giữa các bên chủ thể tham gia tố tụng. Hoạt động thụ lý vụ án hành chính có những đặc điểm  sau:

  • Nội dung cơ bản trong giai đoạn này là Tòa án xem xét chấp nhận hay không chấp nhận giải quyết vụ án hành chính. Sau khi xem xét đơn khởi kiện nếu thấy đủ căn cứ thụ lý thì Tòa án ra thông báo thụ lý đồng thời hướng dẫn người khởi kiện thực hiện các quyền, nghĩa vụ tố tụng và chuẩn bị các điều kiện cần thiết để giải quyết vụ án. Ngược lại trong trường hợp Tòa án từ chối thụ lý thì phải giải thích rõ cho người nộp đơn biết về lý do từ chối và hướng dẫn họ yêu cầu chủ thể có thẩm quyền khác để giải quyết.
  • Thụ lý vụ án hành chính là hành vi tố tụng do Tòa án có thẩm quyền thực hiện. Luật tố tụng hành chính 2010 quy định rõ thẩm quyền giải quyết theo thủ tục tố tụng hành chính bao gồm thẩm quyền theo loại khiếu kiện (còn gọi là thẩm quyền theo loại việc) và thẩm quyền theo cấp tòa án và theo lãnh thổ. Thẩm quyền theo loại khiếu kiện cho phép xác định những loại khiếu kiện nào và trong lĩnh vực hoạt động quản lý hành chính nào thì Tòa án nhân dân được quyền thụ lý để giải quyết theo thủ tục tố tụng hành chính. Theo khoản 1 Điều 28 Luật Tố tụng hành chính 2010 thì Tòa án có thẩm quyền giải quyết các khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính, trừ các quyết định hành chính, hành vi hành chính thuộc phạm vi bí mật nhà nước trong các lĩnh vực quốc phòng, an ninh, ngoại giao theo danh mục do Chính phủ quy định và các quyết định hành chính, hành vi hành chính mang tính nội bộ của cơ quan, tổ chức. Còn thẩm quyền theo cấp Tòa án và lãnh thổ xác định trong trường hợp nào thì Tòa án cấp nào có thẩm quyền giải quyết. Do Tòa án nước ta được tổ chức theo đơn vị hành chính – lãnh thổ nên việc phân định thẩm quyền giữa các cấp Tòa án được gọi chung là thẩm quyền theo cấp và thẩm quyền theo lãnh thổ vì hai thẩm quyền này gắn liền với nhau, ví dụ như nói đến thẩm quyền cấp huyện thì phải đồng thời chỉ rõ phạm vi lãnh thổ mà Tòa án này được thụ lý các khiếu kiện hành chính. Trong Luật Tố tụng hành chính 2010 thì thẩm quyền này được quy định tại các Điều 29, Điều 30.

Theo như việc quy định thẩm quyền giải quyết vụ án hành chính theo cấp Tòa án như hiện nay thì ta có thể thấy Luật Tố tụng hành chính có sự mở rộng tối đa thẩm quyền cho Tòa án cấp huyện vì đa số các quyết định hành chính, hành vi hành chính tập trung từ cấp huyện trở xuống. Tòa án cấp tỉnh chủ yếu giải quyết theo thủ tục phúc thẩm còn Tòa án Tối cao đảm nhận giám đốc thẩm, công tác tổng kết xét xử, hướng dẫn áp dụng pháp luật.

  • Việc tòa án thụ lý hay không thụ lý vụ án hành chính phải có đủ căn cứ pháp lý do pháp luật quy định. Căn cứ pháp lý để thụ lý vụ án hành chính là những cơ sở do pháp luật quy định mà dựa vào đó Tòa án xem xét có thụ lý hay không thụ lý vụ án hành chính. Căn cứ này có một số đặc điểm sau: Thứ nhất căn cứ này được quy định cụ thể trong pháp luật, nước ta là nhà nước pháp quyền Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật. Hệ thống các văn bản pháp luật là phương tiện để chuyển tải chủ trương, chính sách pháp luật của Đảng và Nhà nước. Do đó có thể khẳng định hệ thống pháp luật nói chung và pháp luật về tố tụng hành chính nói riêng là cơ sở pháp lý làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt các quan hệ pháp luật. Các căn cứ thụ lý vụ án hành chính được Luật tố tụng hành chính quy định. Thứ hai, việc xem xét các căn cứ này trước khi tiến hành thụ lý là bắt buộc. Khi nhận được đơn khởi kiện, Tòa án buộc phải kiểm tra đơn khởi kiện đó có phù hợp với các căn cứ pháp lý hay không chứ không thể thụ lý trước sau đó mới kiểm tra lại. Điều này giúp việc thụ lý của Tòa án không tràn lan, chồng chéo nhau làm ảnh hưởng tới hoạt động bình thường của Tòa án. Thứ ba, những căn cứ này là cơ sở cho Tòa án thực hiện chức năng xét xử của mình. Nếu không có những quy định cụ thể này thì sẽ rất khó khăn cho Tòa án khi thụ lý vụ án và tiến hành các giai đoạn tiếp theo của quá trình tố tụng. Tòa án sẽ không thể biết trong trường hợp nào thụ lý hoặc trường hợp nào từ chối thụ lý vì vậy có thể dẫn đến đơn khởi kiện đủ điều kiện để thụ lý nhưng bị từ chối hoặc ngược lại là tình trạng thụ lý không đúng thẩm quyền, đơn khởi kiện sai hình thức, sai đối tượng khởi kiện nhưng vẫn được thụ lý làm ảnh hưởng tiêu cực tới hoạt động của Tòa án và các chủ thể khác.

Tóm lại, Toà án không thể tùy tiện muốn thụ lý hay không thụ lý cũng được mà phải dựa vào quy định của pháp luật. Nếu xem xét có đủ điều kiện để thụ lý thì Tòa án không được quyền từ chối và ngược lại Tòa án cũng không thụ lý vụ án hành chính khi việc khởi kiện là chưa thỏa mãn quy định của pháp luật.

1.1.3 Vị trí vai trò của thụ lý vụ án hành chính

Nếu như khởi kiện là điều kiện cần thì thụ lý là điều kiện đủ để phát sinh vụ án hành chính. Thụ lý vụ án hành chính là giai đoạn đầu đặt tiền đề cho các giai đoạn sau này, giai đoạn này đặc biệt có ý nghĩa trong quá trình tố tụng hành chính bởi các lí do:

Một là, trong giai đoạn thụ lý vụ án hành chính, Tòa án xem xét nội dung, thủ tuc vụ án để quyết định có đưa vụ án ra xét xử hay không. Vì vậy, việc xét xử vụ án có đúng pháp luật hay không phụ thuộc vào quá trình thụ lý vụ án. Nếu không thụ lý vụ án sẽ không có các quá trình tố tụng khác tiếp theo.

Hai là, thụ lý vụ án đặt trách nhiệm của Tòa án là phải giải quyết vụ án trong thời hạn pháp luật quy định kể từ ngày thụ lý vụ án. Theo Điều 112 Luật Tố tụng hành chính thì trong vòng 3 ngày làm việc, Chánh án phải phân công Thẩm phán giải quyết vụ án và trong vòng 5 ngày làm việc kể từ ngày thụ lý Tòa án phải thực hiện việc thông báo bằng văn bản cho người bị kiện, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan biết (Điều 114 Luật Tố tụng hành chính). Như vậy từ ngày Tòa án thụ lý vụ án, Luật Tố tụng hành chính đã ràng buộc thời hạn và trách nhiệm của Tòa án, điều này giúp thời gian giải quyết vụ án nhanh chóng, tránh tình trạng vụ án đã được thụ lý tồn đọng do Tòa án không thực hiện nhiệm vụ của mình.

Ba là, việc chấp nhận đơn khởi kiện, vào sổ thụ lý còn giúp Tòa án có những nhận định ban đầu cần thiết về tình trạng tranh chấp hành chính, phương hướng giải quyết vụ việc và hạn chế tình trạng tranh chấp về thẩm quyền.

1.2 Quy định của pháp luật hiện hành về thụ lý vụ án hành chính.

1.2.1 Nhận, xem xét và yêu cầu sửa đổi đơn khởi kiện

Đơn khởi kiện đương sự có thể nộp trực tiếp tại Tòa án có thẩm quyền hoặc nộp qua đường bưu điện. Tòa án nhận đơn khởi kiện và phải ghi vào sổ nhận đơn, cấp giấy xác nhận đã nhận đơn cho đương sự. Trong thời hạn 5 ngày làm việc Chánh án phải phân công Thẩm phán xem xét đơn khởi kiện. Thời hạn để Thẩm phán xem xét đơn khởi kiện là 5 ngày làm việc, trong thời gian này, Thẩm phán thực hiện một trong các quyết định sau:

  • Tiến hành thụ lý vụ án nếu vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết.
  • Chuyển đơn khởi kiện cho Tòa án khác có thẩm quyền và báo cho người khởi kiện biết việc chuyển đơn khởi kiện này nếu xét thấy vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án khác.
  • Trả lai đơn khởi kiện nếu rơi vào các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 109 Luật Tố tụng hành chính.

Ngoài ra, nếu đơn khởi kiện không đáp ứng các tiêu chí như ở khoản 1 Điều 105 Luật Tố tụng hành chính thì Thẩm phán phải thông báo để người khởi kiện sửa đổi, bổ sung trong thời hạn 10 ngày làm việc kể từ ngày họ nhận được thông báo của Tòa án. Trong thời hạn trên nếu người khởi kiện thực hiện việc sửa đổi, bổ sung theo đúng quy định tại khoản 1 Điều 105 Luật Tố tụng hành chính thì Tòa án tiếp tục việc thụ lý vụ án, còn nếu họ không sửa đổi, bổ sung theo đúng yêu cầu  thì Tòa án trả lại đơn khởi kiện và tài liệu kèm theo cho người khởi kiện. Thời hạn để sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện này không tính vào thời hiệu khởi kiện, ngày khởi kiện vẫn được xác định là ngày gửi đơn khởi kiện (Theo Điều 13 NQ 02/2011/NQ-HĐTP).

1.2.2 Trả lại đơn khởi kiện

Với mục đích để tránh cho việc khởi kiện một cách tràn lan, lạm dụng quyền khởi kiện cũng như ra quyết định trả lại đơn kiện không có căn cứ, xâm hại quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức nên tại khoản 1 Điều 109 Luật Tố tụng hành chính quy định Tòa án trả lại đơn khởi kiện trong những trường hợp sau:

  • Người khởi kiện không có quyền khởi kiện.

Đây là trường hợp người khởi kiện không là người chịu tác động trực tiếp của quyết định hành chính, hành vi hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc, quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh, việc lập danh sách cử tri. Theo quy định hiện nay thì quyền khởi kiện của chủ thể khởi kiện được bắt đầu từ khi họ cho rằng quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm trực tiếp bởi các đối tượng khởi kiện, vì vậy nếu không phải là chủ thể bị tác động trực tiếp thì không có quyền khởi kiện vụ án hành chính và trong trường hợp này Tòa án sẽ trả lại đơn khởi kiện từ chối thụ lý.

Ví dụ: Ông Nguyễn Văn A bị Uỷ ban nhân dân huyện X ra quyết định hành chính thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng 1 hecta đất nông nghiệp. Không đồng ý với quyết định trên, ông B là em ông A làm đơn khởi kiện lên Tòa án. Trong trường hợp này, Tòa án sẽ trả lại đơn khởi kiện do người khởi kiện không có quyền khởi kiện.

  • Người khởi kiện không có đủ năng lực hành vi tố tụng hành chính.

Năng lực hành vi tố tụng hành chính là khả năng tự mình thực hiện quyền, nghĩa vụ tố tụng hành chính hoặc ủy quyền cho người đại diện tham gia tố tụng hành chính. Theo tinh thần Điều 48 Luật Tố tụng hành chính thì người khởi kiện phải là công dân từ đủ 18 tuổi không mất năng lực hành vi dân sự hoặc trường hợp pháp luật quy định khác. Người mất năng lực hành vi dân sự được Bộ luật dân sự 2014 xác định là người bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình bị Tòa án ra quyết định tuyên bố mât năng lực hành vi dân sự trên cơ sở giám định. Đối với các trường hợp người khởi kiện là người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự thì quyền và nghĩa vụ của họ trong tố tụng hành chính sẽ được thực hiện thông qua người đại diện theo pháp luật. Đối với trường hợp cơ quan, tổ chức thì người đại diện theo pháp luật cũng thay mặt thực hiện các quyền và nghĩa vụ tố tụng.

Việc quy định về quyền khởi kiện cũng như năng lực hành vi tố tụng hành chính của người khởi kiện là một điều kiện để thụ lý vụ án hành chính là phù hợp. Nếu không có quy định trên việc khởi kiện và thụ lý cũng như quá trình giải quyết vụ án về sau sẽ rất rắc rối.

  • Thời hiệu khởi kiện đã hết mà không có lý do chính đáng

Thời hiệu khởi kiện được quy định tại khoản 2 Điều 104 Luật Tố tụng hành chính hiện nay là 1 năm kể từ ngày nhận được hoặc biết được  quyết định hành chính, hành vi hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc; 30 ngày đối với quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh; 5 ngày kể từ ngày nhận được thông báo kết quả khiếu nại của cơ quan danh sách cử tri hoặc kết thúc thời hạn giải quyết khiếu nại mà không nhận được kết quả giải quyết khiếu nại.

Nếu hết thời hiệu trên thì mặc dù đơn khởi kiện thỏa mãn các điều kiện khác thì Tòa án cùng trả lại đơn khởi kiện. Song, nếu người khởi kiện có lý do chính đáng như trong trường hợp bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan thì thời gian đó không được tính vào thời hiệu.

So với Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính thì việc quy định thời hiệu như hiện nay là phù hợp hơn bởi vì theo Điều 30 Pháp lệnh này thì thời hiệu chỉ là 30 ngày đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính và 10 ngày đối với quyết định kỷ luật buộc thôi việc. Rõ ràng thời hiệu này trong Pháp lệnh là qua ít để chủ thể bị tác động khởi kiện yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

  • Chưa có đủ điều kiện để khởi kiện vụ án hành chính

Để Tòa án thụ lý vụ án thì đơn khởi kiện phải đủ các điều kiện khởi kiện, các điêu kiện khởi kiện vụ án hành chính bao gồm điều kiện về người khởi kiện, điều kiện về đối tượng khởi kiện và người bị kiện, điều kiên về thủ tục tiền tố tụng, điều kiện về thẩm quyền giải quyết các khiếu kiện hành chính, điều kiện thời hiệu khởi kiện và cuối cùng là điều kiện loại việc đưa ra khởi kiện phải là vụ việc chưa được giải quyết bằng quyết định hoặc bản án đã có hiệu lực của Tòa án. Theo đó, điều kiện khởi kiện vụ án hành chính được đề cập tới trong quy định này là thủ tục tiền tố tụng- thủ tục khiếu nại trước khi khởi kiện. Đối với khiếu kiện mà pháp luật tố tụng hành chính bắt buộc phải trải qua việc khiếu nại và có kết quả giải quyết khiếu nại rồi mới kiện lên Tòa án thì nếu chưa đáp ứng điều kiện này Tòa án sẽ trả đơn khởi kiện. Hiện nay, Luật Tố tụng hành chính chỉ quy định khiếu nại trước khi khởi kiện đối với việc khởi kiện vụ án hành chính về danh sách cử tri bầu cử Đại biểu Quốc hội, danh sách cử tri bầu cử Hội đồng nhân dân còn các loại khiếu kiện khác có thể kiện thẳng ra tòa. Đây là sự tiến bộ trong lịch sử lập pháp Việt Nam, cụ thể hóa Điều 7 “quyền quyết định và tự định đoạt của người khởi kiện”.

  • Sự việc đã được giải quyết bằng bản án hoặc quyết định của Tòa án và đã có hiệu lực pháp luật.

Ví dụ: Ông B nhận được quyết định kỷ luật buộc thôi việc ngày 1/1/2013, ông đã gửi đơn khởi kiện lên Tòa án huyện X để yêu cầu bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của mình. Tòa án huyện X sau khi thụ lý đơn yêu cầu đã mở phiên tòa xét xử tuyên bác yêu cầu của ông B. Tháng 10/2013 ông B lại tiếp tục gửi đơn khởi kiện lên Tòa án tiếp tục yêu cầu Tòa xem xét quyết định kỷ luật buộc thôi việc của ông. Trong trường hợp này, Tòa án sẽ trả lại đơn khởi kiện cho ông B vì vụ việc ông khởi kiện đã được giải quyết bằng bản án có hiệu lực pháp luật.

  • Sự việc không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.

Tòa án chỉ thụ lý đơn khởi kiện nếu xét thấy vụ việc là thuộc thẩm quyền của Tòa án. Trong trường hợp xác định vụ việc không thuộc thẩm quyền của Tòa án thì Tòa án tiến hành trả lại đơn khởi kiện. Thẩm quyền mà điều luật này đề cập tới là thẩm quyền theo loại việc. Những khiếu kiện thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án được quy định tại Điều 28 Luật Tố tụng hành chính. Vì vậy nếu vụ việc không rơi vào trường hợp thuộc thẩm quyền của Tòa án thì đương nhiên Tòa án không có thẩm quyền giải quyết.

  • Người khởi kiện lựa chọn giải quyết vụ việc theo thủ tục giải quyết khiếu nại trong trường hợp vừa có đơn khiếu nại vừa có đơn khởi kiện.

Trường hợp cùng một vụ việc mà vừa có đơn khởi kiện gửi đến Tòa án vừa có đơn khiếu nại gửi đến người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại thì Tòa án phải yêu cầu người khởi kiện làm văn bản lựa chọn cơ quan giải quyết. Nếu người khởi kiện lựa chọn người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại thì Tòa án căn cứ vào điểm g khoản 1 Điều 109 Luật Tố tụng hành chính trả lại đơn khởi kiện.

  • Đơn khởi kiện không có đủ nội dung quy định tại Điều 105 Luật Tố tụng hành chính mà không được người khởi kiện sửa đổi, bổ sung trong thời hạn cho phép.

Để đơn khởi kiện được thụ lý thì đơn đó phải có đủ các nội dung theo quy định tại khoản 1 Điều 105 Luật Tố tụng hành chính. Nếu xét thấy chưa đủ nội dung thì Tòa án thông báo để người khởi kiện sửa đổi, bổ sung trong vòng 10 ngày. Nếu quá thời hạn trên mà người khởi kiện vẫn chưa sửa đổi cho phù hợp thì Tòa án căn cứ vào khoản 2 Điều 108 Luật Tố tụng hành chính và điểm h khoản 1 Điều 109 Luật Tố tụng hành chính trả đơn khởi kiện.

  • Hết thời hạn được thông báo quy định tại khoản 1 Điều 111 Luật Tố tụng hành chính mà người khởi kiện không xuất trình biên lai nộp tạm ứng án phí cho Tòa án, trừ trường hợp pháp luật quy định khác.

Trừ trường hợp được miễn tạm ứng án phí, nếu trong thời hạn 10 ngày làm việc kể từ ngày nhận được thông báo nộp tạm ứng án phí thì người khởi kiện phải nộp tạm ứng án phí. Quá thời hạn trên, Tòa án nơi nhận đơn kiện sẽ trả lại đơn khởi kiện.

Khi trả đơn khởi kiện Tòa án cũng đồng thời trả lại các tài liệu kèm theo cùng với lí do trả lại đơn kiện. Đồng thời, Tòa án phải gửi văn bản trả lại đơn khởi kiện cho Viện Kiểm sát cùng cấp.

1.2.3 Điều kiện thụ lý vụ án hành chính    

Pháp luật tố tụng hành chính ở nước ta hiện nay không quy định điều kiện thụ lý vụ án hành chính thành một điều khoản riêng biệt. Xét tổng thể các quy định về điều kiện thụ lý vụ án hành chính thì Tòa án sẽ tiến hành thụ lý vụ án hành chính khi có đủ các điều kiện sau:

2.3.1 Việc khởi kiện đáp ứng đầy đủ các điều kiện khởi kiện theo quy định của Luật Tố tụng hành chính

Điều kiện khởi kiện là một yêu cầu cần thiết nhất để Tòa án ra quyết định thụ lý vụ án hay không. Điều này cũng thể hiện mối liên hệ chặt chẽ giữa việc khởi kiện và thụ lý vụ án. Điều kiện khởi kiện cũng không được quy định tại một điều luật cụ thể nhưng chúng ta có thể tóm lại thành 6 điều kiện:

  • Chủ thể khởi kiện

Khoản 3 Điều 6 Luật Tố tụng hành chính quy định “người khởi kiện là cá nhân, cơ quan, tổ chức khởi kiện vụ án hành chính đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc, quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh, việc lập danh sách cử tri”. Như vậy, quyền khởi kiện được Nhà nước quy định cho cá nhân và cơ quan, tổ chức. Tuy nhiên, không phải mọi cá nhân, cơ quan, tổ chức đều có quyền trực tiếp khởi kiện mà pháp luật tố tụng quy định người khởi kiện phải có năng lực pháp luật tố tụng hành chính và năng lực hành vi tố tụng hành chính (Điều 48 Luật Tố tụng hành chính). Theo đó, người khởi kiện nếu là cá nhân thì phải  từ đủ 18 tuổi, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, còn trong trường hợp  người khởi kiện chưa thành niên hoặc người mất năng lực hành vi dân sự  thì việc khởi kiện được thực hiện thông qua người đại diện theo pháp luật. Còn trong trường hợp người khởi kiện là cơ quan, tổ chức kinh tế thì việc khởi kiện này phải thông qua người đại diện hoặc người được ủy quyền. Người đại diện theo pháp luật này có thể là người đứng đầu, người lãnh đạo của cơ quan, tổ chức đó.

Ngoài ra, người khởi kiện trong vụ án hành chính phải là người bị tác động trực tiếp bởi các quyết định hành chính, hành vi hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc. Điều này có nghĩa là đối với cá nhân, cơ quan, tổ chức chỉ bị ảnh hưởng bởi các quyết định hành chính, hành vi hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc nhưng không chịu tác động trực tiếp thì không có quyền nộp đơn khởi kiện.

  • Đối tượng khởi kiện và người bị kiện
  • Đối tượng khởi kiện

Hiện nay Luật Tố tụng hành chính hiện hành chưa có điều luật cụ thể nào quy định đối tượng khởi kiện trong vụ án hành chính tuy nhiên căn cứ vào Điều 28 và Điều 103 của Luật này ta có thể chia đối tượng khởi kiện của vụ án hành chính thành 4 nhóm sau:

  • Quyết định hành chính, hành vi hành chính: Đây là nhóm đối tượng chủ yếu trong vụ án hành chính. Đa phần các tranh chấp hành chính hiện nay nằm ở đối tượng này do số lượng quyết định, hành vi hành chính rất nhiều và liên quan trực tiếp đến quyền, lợi ích của cá nhân, cơ quan, tổ chức chịu tác động của nó.
  • Quyết định hành chính: Theo cách giải thích tại Điều 3 Luật Tố tụng hành chính thì  “quyết định hành chính là văn bản do cơ quan Nhà nước, cơ quan, tổ chức khác hoặc người có thẩm quyền trong các cơ quan, tổ chức đó ban hành, quyết định một vấn đề cụ thể trong hoạt động quản lý hành chính được áp dụng một lần đối với một hoặc một số đối tượng cụ thể”. Như vậy, không phải mọi quyết định hành chính đều có thể bị khởi kiện trong vụ án hành chính mà chí có những quyết định thỏa mãn các điều kiện về chủ thể ban hành là cơ quan Nhà nước, người có thẩm quyền trong cơ quan Nhà nước; về nội dung là văn bản đó phải điều chỉnh vấn đề trong hoạt động quản lý Nhà nước và phương thức áp dụng là được áp dụng một lần đối với đối tượng cụ thể. Bên cạnh quy định tại Luật Tố tụng hành chính thì quyết định hành chính là đối tượng khởi kiện trong vụ án hành chính còn được hướng dẫn tại Điều 1 NQ 02/2011/NQ-HĐTP và Điều 1 NQ 01/2015/NQ-HĐTP.

Ngoài ra quyết định hành chính là đối tượng khởi kiện của vụ án hành chính phải là quyết định hành chính lần đầu. Có nghĩa là quyết định đó phải là quyết định do cơ quan, người có thẩm quyền ban hành lần đầu trong khi giải quyết, thụ lý những vụ việc cụ thể thuộc thẩm quyền của mình. Ngoài ra, các quyết định tại Mục 2 Nghị quyết 04/2006/NQ- Hội đồng Thẩm phán cũng được cho là quyết định lần đầu. Bao gồm: Quyết định hành chính được ban hành thay thế quyết định hành chính đã ban hành trước đó nhưng chưa có khiếu nại; Quyết định hành chính được ban hành nhằm sửa đổi, bổ sung quyết định hành chính trước chưa có khiếu nại; Quyết định hành chính mới được ban hành sau khi quyết định hành chính trước đó bị Tòa án hủy và giao giải quyết lại; Quyết định sửa đổi một phần hoặc toàn bộ quyết định hành chính sau khi có kết quả giải quyết khiếu nại lần hai.

  • Hành vi hành chính: Khoản 2 Điều 3 Luật Tố tụng hành chính nêu rõ “hành vi hành chính là hành vi do cơ quan nhà nước, cơ quan, tổ chức khác hoặc của người có thẩm quyền trong cơ quan, tổ chức đó thực hiện hoặc không thực hiện nhiệm vụ, công vụ theo quy định của pháp luật”. Như vậy tương tự như quyết định hành chính không phải mọi hành vi hành chính đều là đối tượng khởi kiện mà hành vi đó cũng phải là hành vi do cơ quan Nhà nước hoặc người có thẩm quyền trong cơ quan Nhà nước. Tuy nhiên hành vi đó có thể được thể hiện dưới hình thức hành động hoặc không hành động. Việc xác định hành vi nào là hành vi do cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền trong cơ quan nhà nước thực hiện cũng như thế nào là không thực hiện nhiệm vụ, công vụ sẽ được căn cứ vào thẩm quyền, thời hạn thực hiên nhiệm vụ, công vụ đó và được quy định tại khoản 2 Điều 1 Nghị quyết 02/2011.

Ngoài ra đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính thuộc phạm vi bí mật nhà nước trong các lĩnh vực quốc phòng, an ninh, ngoại giao theo danh mục do Chính phủ quy định và các quyết định hành chính, hành vi hành chính mang tính nội bộ của cơ quan, tổ chức thì không được quyền khởi kiện. Quy định này là hợp lý vì thông tin bí mật Nhà nước là những thông tin quan trọng không được công bố hoặc chưa công bố và những thông tin này nếu bị tiết lộ thì nguy hại cho Nhà nước. Theo Pháp luật Bảo vệ bí mật Nhà nước 2000 thì căn cứ vào tính chất quan trọng của thông tin, mức độ nguy hại nếu bị tiết lộ mà các tin thuộc phạm vi bí mật nhà nước được chia làm 3 mức độ: Tuyệt mật, Tối mật và Mật. Còn quyết định hành chính, hành vi hành chính mang tính nội bộ của cơ quan, tổ chức như quyết định khen thưởng, kỷ luật, quyết định điều động, thuyên chuyển công tác…được cho là không tác động, ảnh hưởng lớn đến hoạt động chung của hệ thống hành chính nhà nước và nếu không đồng ý thì có thể khiếu nại hành chính.

  • Khiếu kiện về danh sách cử tri bầu cử đại biểu Quốc hội, danh sách cử tri bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân.

  • Khiếu kiện quyết định kỷ luật buộc thôi việc công chức. Đây là văn bản được thể hiện dưới hình thức quyết định của người đứng đầu cơ quan, tổ chức để áp dụng đối với công chức giữ chức vụ từ Tổng cục trưởng và tương đương trở xuống.

  • Khiếu kiện quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh. Theo giải thích tại khoản 3 Điều 1 Nghị quyết 02/2011 thì  quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh là đối tượng khởi kiện khi quyết định đó là quyết định của Hội đồng cạnh tranh, Bộ trưởng bộ công thương khi giải quyết khiếu nại quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh của Luật cạnh tranh bao gồm quyết định giải quyết khiếu nại của Hội đồng cạnh tranh đối với quyết định của Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh liên quan đến hành vi hạn chế cạnh tranh và quyết định giải quyết khiếu nại của Bộ trưởng Bộ công thương đối với quyết định của thủ trưởng cơ quan quản lý cạnh tranh khi xử lý vụ việc cạnh tranh liên quan đến hành vi cạnh tranh không lành mạnh.

  • Người bị kiện

Để Tòa án thụ lý vụ kiện thì việc khởi kiện phải đúng người. Theo quy định khoản 7 Điều 3 Luật Tố tụng hành chính thì “người bị kiện là cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyết định hành chính, hành vi hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc, quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh, lập danh sách cử tri bị khởi kiện”. Tuy nhiên, việc xác định ai là người có thẩm quyền rất dễ nhầm lẫn vì vậy trong Nghị quyết 02/2011 đã có hướng dẫn chi tiết việc xác định này. Theo đó đối với trường hợp nhiều luật quy định thẩm quyền ra quyết định hành chính hoặc thực hiện hành vi hành chính về một lĩnh vực quản lý thì việc xác định sẽ dựa vào Luật chuyên ngành. Còn trường hợp người việc ký, thực hiện ký hoặc thực hiện với danh nghĩa một chức vụ, chức danh có thẩm quyền thì quyết định, hành vi hành chính đó là của người đảm nhiệm chức vụ, chức danh đó ( quyết định hành chính do ông A ký dưới chức danh là Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã thì gọi là quyết định hành chính của Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã chứ không phải quyết định hành chính của ông A).

  • Thủ tục khiếu nại trước khi khởi kiện

Căn cứ vào khoản 3 Điều 103 Luật Tố tụng hành chính hiện nay thì chỉ có việc khởi kiện vụ án hành chính về danh sách cử tri bầu cử đại biểu Quốc hội, danh sách cử tri bầu cử Hội đồng nhân dân thì mới quy định khiếu nại trước còn các khiếu kiện khác có thể bỏ qua thủ tục khiếu nại để kiện thẳng ra tòa. Sở dĩ có quy định này vì nhà nước muốn tạo cơ hội để cơ quan hành chính nhà nước giải thích các căn cứ pháp lý cần thiết cũng như sữa chữa sai sót của mình trước khi đến với thủ tục tố tụng tại Tòa án. Việc rút bớt thủ tục khiếu nại ở nhiều loại khiếu kiện là điểm tiến bộ  của Luật Tố tụng hành chính so với Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính trước đây. Theo điều 30 Pháp lệnh này thì người khởi kiện phải làm đơn yêu cầu Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ án hành chính trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận được văn bản trả lời của người hoặc cơ quan nhà nước đã ra quyết định hành chính hay có hành vi hành chính về việc giải quyết khiếu nại. Như vậy, quyền khởi kiện chỉ phát sinh khi có thủ tục khiếu nại và quyết định giải quyết khiếu nại, điều này làm kéo dài thời gian cho một vụ án hành chính cũng như dẫn tới tình trạng khiếu nại nhiều hơn khởi kiện.

  • Thẩm quyền giải quyết các khiếu kiện hành chính

Việc khởi kiện phải tuân thủ theo quy định về thẩm quyền của Tòa án. Thẩm quyền theo Luật Tố tụng hành chính hiện nay gồm có thẩm quyền theo loại việc (Điều 28 Luật Tố tụng hành chính) và thẩm quyền theo cấp tòa án và theo lãnh thổ (Điều 29, 30, 31, 32, 33 Luật Tố tụng hành chính). Đơn khởi kiện phải được gửi đến Tòa án có thẩm quyền giải quyết thì mới được thụ lý, nếu khởi kiện không đúng Tòa án thì Tòa án trả lại đơn khởi kiện theo quy định tại khoản 6 Điều 109 Luật Tố tụng hành chính.

  • Thẩm quyền theo loại khiếu kiện: Được quy định tại Điều 28 Luật Tố tụng hành chính, các loại khiếu kiện này cũng chính là đối tượng khởi kiện trong vụ án hành chính. Tòa án không có thẩm quyền thụ lý giải quyết các vụ việc không thuộc thẩm quyền của mình. Trong trường hợp vụ việc không nằm trong các loại khiếu kiện này thì Tòa án sẽ căn cứ vào điểm e khoản 1 Điều 109 Luật Tố tụng hành chính để trả lại đơn khởi kiện.

  • Thẩm quyền theo cấp Tòa án và theo lãnh thổ: Thẩm quyền của các cấp Tòa án được quy định tại Điều 29 và Điều 30 Luật Tố tụng hành chính. Theo đó Tòa án cấp huyện có thẩm quyền giải quyết sơ thẩm những khiếu kiện sau: Khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan nhà nước từ cấp huyện trở xuống trên cùng phạm vi địa giới hành chính với Toà án hoặc của người có thẩm quyền trong cơ quan nhà nước đó; Khiếu kiện quyết định kỷ luật buộc thôi việc của người đứng đầu cơ quan, tổ chức từ cấp huyện trở xuống trên cùng phạm vi địa giới hành chính với Toà án đối với công chức thuộc quyền quản lý của cơ quan, tổ chức đó; Khiếu kiện về danh sách cử tri bầu cử đại biểu Quốc hội, danh sách cử tri bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân của cơ quan lập danh sách cử tri trên cùng phạm vi địa giới hành chính với Toà án. Nhìn vào quy định này ta thấy rằng thẩm quyền của Tòa án cấp huyện trong giải quyết vụ án hành chính rất rộng. Việc quy định này giúp giảm tải áp lực cho Tòa án cấp tỉnh đồng thời tạo điều kiện thuận lợi hơn để cá nhân, cơ quan, tổ chức thực hiện việc khởi kiện của mình.

Điều 30 Luật Tố tụng hành chính quy định Tòa án nhân  dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có thẩm quyền giải quyết những khiếu kiện sau:

Khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính của bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Văn phòng Chủ tịch nước, Văn phòng Quốc hội, Kiểm toán nhà nước, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao và quyết định hành chính, hành vi hành chính của người có thẩm quyền trong cơ quan đó mà người khởi kiện có nơi cư trú, nơi làm việc hoặc trụ sở trên cùng phạm vi địa giới hành chính với Toà án; trường hợp người khởi kiện không có nơi cư trú, nơi làm việc hoặc trụ sở trên lãnh thổ Việt Nam thì thẩm quyền giải quyết thuộc Toà án nơi cơ quan, người có thẩm quyền ra quyết định hành chính, có hành vi hành chính;

….

Trong trường hợp cần thiết, Toà án cấp tỉnh có thể lấy lên để giải quyết khiếu kiện thuộc thẩm quyền của Toà án cấp huyện”.

Tuy Luật Tố tụng hành chính cũng quy định thẩm quyền giải quyết sơ thẩm vụ án hành chính cho Tòa án cấp tỉnh nhưng thẩm quyền này bị giới hạn chủ thể ban hành quyết định hành chính, hành vi hành chính đó chỉ là bộ, cơ quan thuộc chính phủ, Văn phòng chủ tịch nước, Văn phòng Quốc hội, Kiểm toán nhà nước, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao. Hơn nữa người khởi kiện phải có nơi cư trú, nơi làm việc hoặc trụ sở trên cùng phạm vi địa giới hành chính với Tòa án cấp tỉnh, nếu không thì thẩm quyền thuộc về Toà án nơi cơ quan, người có thẩm quyền ra quyết định hành chính, hành vi hành chính.

  • Thời hiệu khởi kiện

Thời hiệu khởi kiện là thời hạn mà cá nhân, cơ quan, tổ chức được quyền khởi kiện để yêu cầu Tòa án hành chính bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, nếu hết thời hạn đó thì quyền khởi kiện cũng không còn. Thời hiệu được quy định tại khoản 2 Điều 104 đối với từng trường hợp là 01 năm, kể từ ngày nhận được hoặc biết được quyết định hành chính, hành vi hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc; 30 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh; Từ ngày nhận được thông báo kết quả giải quyết khiếu nại của cơ quan lập danh sách cử tri hoặc kết thúc thời hạn giải quyết khiếu nại mà không nhận được thông báo kết quả giải quyết khiếu nại của cơ quan lập danh sách cử tri đến trước ngày bầu cử 05 ngày. Ngoài ra trong trường hợp vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan mà người khởi kiện không thực hiện được quyền khởi kiện của mình thì thời gian này không tính vào thời hiệu khởi kiện. Sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan không tính vào thời hiệu khởi kiện theo hướng dẫn tại khoản 2 Điều 12 Nghị quyết 02/2011 bao gồm các sự kiện như thiên tai, địch họa, nhu cầu chiến đấu, chưa có người đại diện trong trường hợp người có quyền  khởi kiện chưa thành niên, mất năng lực hành vi dân sự, hạn chế hành vi dân sự…

  • Vụ việc khởi kiện chưa được giải quyết bằng bản án hoặc quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án.

Nếu vụ việc đã được giải quyết bằng bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực của Tòa án thì việc khởi kiện bị xem là không đủ điều kiện và Tòa án sẽ căn cứ vào Điều 109 trả lại đơn khởi kiện.

2.3.2 Việc khởi kiện đáp ứng các điều kiện khác về nộp tiền tạm ứng án phí.

Theo quy định tại Điều 111 Luật Tố tụng hành chính thì sau khi nhận và xem xét đơn khởi kiện nếu Thẩm phán xét thấy đơn khởi kiện đủ điều kiện và thuộc  thẩm quyền giải quyết thì thông báo cho người khởi kiện biết để họ thực hiện việc nộp tạm ứng án phí. Việc nộp tạm ứng án phí này được thực hiện trong 10 ngày kể từ ngày người khởi kiện nhận được thông báo. Việc nộp tạm ứng án phí này được thực hiện theo Pháp lệnh án phí, lệ phí Tòa án số 10/2009/PL-UBTVQH. Theo đó án phí hành chính bao gồm 3 loại là: án phí hành chính sơ thẩm, án phí hành chính phúc thẩm và án phí dân sự sơ thẩm đối với trường hợp có giải quyết về bồi thường thiệt hại. Nếu hết thời hạn nộp tạm ứng án phí mà người khởi kiện không xuất trình biên lai tạm ứng án phí và không có lý do chính đáng cho việc không xuất trình này thì Tòa án căn cứ vào điểm h khoản 1 Điều 109 trả lại đơn khởi kiện.

Cần lưu ý là trong trường hợp pháp luật miễn nộp tạm ứng án phí thì người khởi kiện không phải nộp và điều kiện về án phí cũng không bắt buộc để Tòa án thụ lý vụ án hành chính. Theo quy định tại Điều 10 Pháp lệnh 10 thì những trường hợp được miễn nộp tạm ứng án phí bao gồm: người khởi kiện là thương binh, bố mẹ liệt sĩ, người có công với cách mạng, người khiếu kiện quyết định hành chính trong việc áp dụng hoặc thi hành biện pháp xử lý hành chính khác như giáo dục tại xã, phường, thị trấn, đưa vào trường giáo dưỡng, đưa vào cơ sở giáo dục, đưa vào cơ sở chữa bệnh; cá nhân, hộ gia đình thuộc dạng nghèo theo quy định của Chính phủ.

1.2.4 Thụ lý vụ án hành chính.

Thụ lý vụ án hành chính được Luật Tố tụng hành chính quy định tại Điều 111 theo đó sau khi nhận đơn khởi kiện, trong vòng 5 ngày làm việc Chánh án phải phân công thẩm phán xem xét đơn kiện, thời gian để Thẩm phán xem xét đơn khởi kiện là 5 ngày làm việc Tòa án sẽ tiến hành thụ lý vụ án hành chính nếu Thẩm phán xem xét đơn kiện xét thấy vụ việc khiếu kiện là đủ điều kiện để thụ lý và thuộc thẩm quyền giải quyết của mình.  Hình thức thụ lý vụ án hành chính thể hiện bằng hình thức ghi vào sổ thụ lý và thông báo bằng văn bản cho đương sự. Thời điểm thụ lý vụ án được xác định là ngày người khởi kiện xuất trình biên lai nộp tiền tạm ứng án phí hoặc ngày Thẩm phán thông báo cho người khởi kiện biết về việc thụ lý trong trường hợp được miễn tạm ứng án phí. Thụ lý vụ án là điều kiện bắt buộc để phát sinh vụ án hành chính, kể từ thời điểm thụ lý vụ án hành chính thì mối quan hệ giữa Tòa án và các bên đương sự trong vụ án cũng chính thức được xác lập.

  • Hậu quả của việc thụ lý sai thẩm quyền: Trong trường hợp Tòa án thụ lý sai thẩm quyền thì căn cứ vào giai đoạn tố tụng giải quyết như sau:
  • Nếu phát hiện vụ việc đã thụ lý không phải là vụ án hành chính nhưng việc giải quyết này vẫn thuộc thẩm quyền của mình thì Tòa án giải quyết theo thủ tục chung đồng thời thông báo việc giải quyết này cho đương sự, Viện kiểm sát cùng cấp biết.

  • Nếu phát hiện việc thụ lý là sai thẩm quyền trước khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử thì căn cứ vào khoản 1 Điều 32 Luật Tố tụng hành chính Tòa án ra quyết định chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án có thẩm quyền và xóa sổ thụ lý. Đồng thời gửi quyết định này đến Viện kiểm sát cùng cấp.

  • Nếu phát hiện thụ lý sai thẩm quyền sau khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử thì căn cứ vào quy định tại khoản 3 Điều 139 Luật Tố tụng hành chính “. Trường hợp đương sự xuất trình quyết định hành chính mới mà quyết định hành chính đó liên quan đến quyết định bị khởi kiện và không thuộc thẩm quyền của Toà án đang xét xử sơ thẩm vụ án thì Hội đồng xét xử đình chỉ việc xét xử và chuyển hồ sơ vụ án cho Toà án có thẩm quyền”.

1.2.5 Phân công Thẩm phán giải quyết vụ án.

Trong thời hạn là 3 ngày làm việc, kể từ ngày thụ lý vụ án Chánh án phân công Thẩm phán đã xem xét đơn khởi kiện và thụ lý vụ án giải quyết vụ án; trường hợp Thẩm phán đã xem xét và thụ lý đơn khởi kiện không thể tiếp tục giải quyết vụ án hoặc thuộc trường hợp phải từ chối tiến hành tố tụng hoặc bị thay đổi thì Chánh án Tòa án phân công một Thẩm phán khác giải quyết vụ án. Đối với vụ án phức tạp, việc giải quyết có thể phải kéo dài thì Chánh án Tòa án phân công Thẩm phán dự khuyết để bảo đảm việc xét xử là liên tục. Trong quá trình giải quyết vụ án, nếu Thẩm phán được phân công không thể tiếp tục tiến hành nhiệm vụ thì Chánh án Tòa án phân công Thẩm phán khác tiếp tục nhiệm vụ. Đối với những vụ án phức tạp, việc giải quyết có thể kéo dài thì Chánh án phải phân công thẩm phán dự khuyết để đảm bảo vụ án được xét xử liên tục, nếu đang xét xử mà không có Thẩm phán dự khuyết thì vụ án phải được xét xử lại từ đầu (Theo Điều 112 Luật Tố tụng hành chính).

Việc phân công Thẩm phán như trên nhằm giúp quá trình tố tụng diễn ra thông suốt, liên tục đúng thời hạn, tránh tình trạng kéo dài thời gian dẫn đến quá hạn giải quyết vụ án. Thẩm phán đã xem xét đơn khởi kiện tiếp tục giải quyết vụ án giúp quá trình giải quyết nhanh hơn do Thẩm phán đã nắm được nội dung cơ bản vụ khởi kiện và đã có những định hướng ban đầu cho việc xét xử.

Khi lập hồ sơ vụ án, Thẩm phán có nhiệm vụ và quyền hạn sau: Thông báo về việc thụ lý vụ án; Yêu cầu đương sự nộp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án; Xác minh, thu thập chứng cứ theo luật định.

1.2.6 Thông báo về việc thụ lý vụ án

Thông báo về việc thụ lý vụ án là hoạt động bắt buộc trong quá trình tố tụng hành chính và được quy định cụ thể tại Điều 114 Luật Tố tụng hành chính như sau:

“1. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày thụ lý vụ án, Toà án phải thông báo bằng văn bản cho người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc giải quyết vụ án và Viện kiểm sát cùng cấp về việc Toà án đã thụ lý vụ án.

  1. Văn bản thông báo phải có các nội dung chính sau đây:
  2. a) Ngày, tháng, năm làm văn bản thông báo;
  3. b) Tên, địa chỉ Toà án đã thụ lý vụ án;
  4. c) Tên, địa chỉ của người khởi kiện, người bị kiện;
  5. d) Những vấn đề cụ thể người khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết;

đ) Danh sách tài liệu người khởi kiện nộp kèm theo đơn khởi kiện;

  1. e) Thời hạn người được thông báo phải nộp ý kiến bằng văn bản về yêu cầu của người khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo (nếu có) cho Toà án;
  2. g) Hậu quả pháp lý của việc người được thông báo không nộp cho Toà án văn bản ghi ý kiến của mình về yêu cầu của người khởi kiện”.

Vì thông báo việc thụ lý vụ án là một thủ tục bắt buộc nên nếu không thông báo cho người bị kiện, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan thì bị xem là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng. Việc thông báo này nhằm công khai, minh bạch việc giải quyết vụ án hành chính, tạo điều kiện cho các bên chuẩn bị trước khi tham gia tố tụng, sự chuẩn bị này là chuẩn bị tài liệu, chứng cứ, hướng tranh cãi cần thiết.

1.2.7 Quyền và nghĩa vụ của người được thông báo

Bên cạnh quy định việc thông báo của Tòa án về việc thụ lý vụ án cho người bị kiện, người có quyền và nghĩa vụ liên quan thì Luật Tố tụng hành chính cũng quy định và nghĩa vụ của người được thông báo thụ lý vụ án nhằm đảm bảo việc giải quyết vụ án đúng thời hạn luật định. Điều 115 Luật Tố tụng hành chính quy định trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được thông báo, người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan phải nộp cho Toà án văn bản ghi ý kiến của mình về yêu cầu của người khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo (nếu có). Trường hợp cần gia hạn thì người được thông báo phải có đơn xin gia hạn gửi cho Toà án nêu rõ lý do; nếu việc xin gia hạn là có căn cứ thì Toà án gia hạn một lần, nhưng không quá 10 ngày.

Như vậy người bị kiện, người có quyền và nghĩa vụ liên quan đã nhận được thông báo thụ lý vụ án nhưng không nộp ý kiến bằng văn bản trong thời hạn luật định thì xem như họ đã từ bỏ quyền chứng minh của mình và Tòa án tiếp tục giải quyết vụ án theo quy định. Để tạo điều kiện cho người bị kiện, người có quyền nghĩa vụ liên quan thực hiện các quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình thì Luật Tố tụng hành chính cũng quy định quyền yêu cầu Tòa án cho biết, đọc, xem, ghi chép, sao chụp đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo đơn khởi kiện nếu có.

Trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được thông báo, Viện kiểm sát cử Kiểm sát viên, Kiểm sát viên dự khuyết (nếu có) tham gia việc giải quyết vụ án và thông báo cho Toà án.

CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỤ LÝ ÁN HÀNH CHÍNH.

2.1 Thực trạng thụ lý vụ án hành chính

2.1.1 Tình hình thụ lý vụ án hành chính

Qua hơn 15 năm hoạt động, hoạt động xét xử hành chính đã bước đầu phát huy tác dụng trong việc giải quyết các khiếu kiện của công dân và góp phần vào việc kiểm tra tính hợp pháp của các quyết định hành chính, hành vi hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc, quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được việc thụ lý vụ án hành chính vẫn còn nhiều bất cập cần được khắc phục trong thời gian tới để đáp ứng nguyện vọng mong mỏi của nhân dân cũng như khẳng định vị trí của hoạt động xét xử hành chính trong xã hội.

Theo số liệu thống kê cho thấy từ khi đi vào hoạt động ngày 1/7/1996 đến cuối năm 1998, Tòa án nhân dân các cấp trên cả nước nhận được hơn 2000 đơn khởi kiện nhưng hầu hết là không đủ điều kiện để thụ lý. Cụ thể tính đến cuối năm 1997 nghĩa là khoảng một năm rưỡi đi vào hoạt động nhưng trên cả nước chỉ mới thụ lý 150 vụ án hành chính. Trong đó có nhiều địa phương chưa thụ lý và giải quyết được vụ nào. Điều này cho thấy pháp luật về tố tụng hành chính chưa phát huy được nhiều vai trò của mình trong xã hội. Từ năm 1997 đến năm 1999, tình hình thụ lý vụ án hành chính có khả quan hơn, bằng chứng là thống kê cho thấy năm 1999 số lượng án được thụ lý là 408 vụ; các Tòa án có số lượng án trên 10 vụ/năm là 6/61 tòa. Tuy nhiên, con số này vẫn còn rất khiêm tốn so với thực tiễn. Trong số 55 tòa án còn lại trên cả nước, số tòa không có vụ án nào là 18 tòa, chiếm tỷ lệ 29,5%; số tòa có dưới 5 vụ án là 37 tòa, chiếm 60,6%.

Trong năm 2000, tình hình thụ lý vụ án hành chính nhìn chung không có bước phát triển lớn. Số vụ án được thụ lý trên cả nước là 503 vụ, giải quyết được 419 vụ. Ở năm 2001, Tòa án cả nước đã thụ lý 688 vụ án, trong đó giải quyết được 531 vụ. Mặc dù so với năm 2000, số vụ án được thụ lý không tăng lên đáng kể nhưng so với những năm đầu Tòa hành chính đi vào hoạt động thì đây đã là bước phát triển dài đáng khích lệ.

Năm 2002 đánh dấu bước phát triển nhảy vọt trong hoạt động thụ lý vụ án hành chính nói riêng và hoạt động tố tụng hành chính nói chung. Trong năm này, số vụ án hành chính được thụ lý trên cả nước là 1064 vụ, tăng 376 vụ so với năm trước. Điều này chứng tỏ niềm tin của người dân vào việc xét xử của Tòa án ngày càng tăng và vai trò của án hành chính trong hoạt động xét xử được khẳng định. Trong năm này có một vụ kiện nổi bật của Bà Nguyễn Thị Mới ở Bà Rịa- Vũng Tàu, ở vụ kiện này Tòa hành chính Tòa án nhân dân tỉnh đã xét xử cho bà Mới thắng kiện trong vụ kiện với Tòa án nhân dân tỉnh về việc Ủy ban nhân dân đã bác đơn của  bà yêu cầu Công ty Xuất nhập khẩu dịch vụ dầu khí trả lại khu đất đã chiếm dụng. Từ vụ kiện này, cho thấy không phải chuyện dân kiện quan là chuyện không thể xảy ra, điều này giúp người dân tin tưởng về một cơ chế xét xử công bằng của Tòa án từ đó tạo cho hoạt động của Tòa hành chính ngày càng đi theo hướng tích cực.

Từ năm 2003, số lượng vụ án được thụ lý tiếp tục tăng mạnh. Năm 2003, tổng số án mà cả nước thụ lý là 1458 vụ án hành chính, tăng hơn rất nhiều so với năm 2002. Trong năm này Luật đất đai 2003 có hiệu lực, đây là một căn cứ pháp lý để người dân hiểu hơn về quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong lĩnh vực đất đai. Chính vì thế, trong năm 2003 số lượng đơn khởi kiện và số lượng vụ án được Tòa hành chính thụ lý trong lĩnh vực quản lý đất đai tăng lên đáng kể. Chỉ riêng Thành phố Hồ Chí Minh trong năm 2003 đã thụ lý 105 vụ. Nhưng trong 105 vụ thụ lý đó thì chỉ giải quyết được 76 vụ.

Năm 2004 trên toàn quốc thụ lý được 1746 vụ án hành chính. Từ con số trên cho thấy việc dân kiện quan không còn là vấn đề hy hữu nữa. Điều này chứng tỏ rằng cơ chế giải quyết tranh chấp hành chính theo trật tự Tòa án đã bắt đầu nhận được sự đồng tình, ủng hộ của người dân. Năm 2004 cũng là năm Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh đạt kỷ lục về xét xử vụ án hành chính, cứ 2 ngày xét xử 1 vụ. Theo đó, tất cả Tòa án trên Thành phố Hồ Chí Minh đã thụ lý 353 vụ , giải quyết 260 vụ. Riêng Tòa án nhân dân Thành phố thụ lý 110 vụ, giải quyết 99 vụ. Tại 24 Tòa án nhân dân Quận, huyện thụ lý 243 vụ, giải quyết 161 vụ.

Năm 2005 đánh dấu sự ra đời của các văn bản luật như: Luật khiếu nại, Luật tố cáo, Luật đầu tư, Luật thương mại,… Điều này đã ảnh hưởng đến việc khởi kiện vụ án hành chính của nhân dân. Tuy nhiên trong năm này số lượng vụ án được thụ lý lại thấp hơn so với năm 2004. Cụ thể, trên cả nước số lượng vụ án thụ lý chỉ là 835 vụ, giảm gần một nửa so với năm 2004. Số án mà toàn ngành Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh là 277 vụ, giảm 76 vụ so với năm 2004.

Trong các năm 2006, 2007, 2008, 2009, 2010 số lượng vụ án hành chính được thụ lý tăng lên đáng kể. Nguyên nhân là do trong năm 2006, Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án hành chính được sửa đổi, bổ sung với việc mở rộng các loại việc mà Tòa án có thẩm quyền giải quyết từ 9 lên 22 loại việc. Sự thay đổi này làm cho hoạt động tố tụng hành chính có bước phát triển vượt bậc khi số lượng đơn kiện và số lượng vụ án được thụ lý ngày càng nhiều chứng tỏ niềm tin của nhân dân ngày càng cao. Tính từ tháng 10/2006 đến tháng 8/2007 Tòa án trên cả nước đã thụ lý 1674 vụ án hành chính, giải quyết được 1261 vụ. Ngày 1/7/2006 đến ngày 31/5/2007 toàn ngành Tòa án Hà Nội đã thụ lý 55 vụ, riêng Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội thụ lý 4 vụ sơ thẩm, các nội dung khởi kiện trong các vụ này đều liên quan đến lĩnh vực quản lý và sử dụng đất đai, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Đặc biệt, từ ngày 1/7/2011 Luật Tố tụng hành chính chính thức có hiệu lực thi hành đã tạo điều kiện thuận lợi cho người dân trong khiếu kiện hành chính, đồng thời mở rộng thẩm quyền xét xử của Tòa án. Do đó, từ năm này, số lượng án hành chính ngày càng nhiều. Theo số liệu từ “ Báo cáo Hội đồng nhân dân của Tòa án 2012” của Tòa án nhân dân Hà Nội thì chỉ riêng năm 2012, số lượng án hành chính trong năm tăng 208,6%. Toàn ngành đã thụ lý 466 vụ, tăng 315 vụ so với năm 2011, giải quyết 185 vụ. Trong đó, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội thụ lý sơ thẩm 29 vụ, giải quyết 13 vụ, thụ lý phúc thẩm 81 vụ, giải quyết 78 vụ; Tòa án cấp huyện thụ lý 356 vụ, giải quyết 94 vụ.

Cũng trong năm 2012, trong “Báo cáo tổng kết công tác năm 2012” của Tòa án nhân dân tối cao đã thu được kết quả hết sức khả quan trong thụ lý án hành chính. Theo đó, Tòa án nhân dân các cấp đã thụ lý tất cả 6177 vụ, tăng 3854 vụ (tương đương 166%) so với năm 2011. Trong đó số vụ đã xét xử là 4742 vụ.

Như vậy từ khi Đảng và Nhà nước trao quyền giải quyết các khiếu kiện cho Tòa án cho đến nay  thì  số lượng đơn khởi kiện và số vụ Tòa án thụ lý có bước tăng vượt bậc, điều này chứng tỏ người dân đã thực sự biết về quyền khiếu kiện hành chính và tin tưởng vào trình tự thủ tục giải quyết của Tòa án. Nguyên nhân có bước phát triển tích cực này là do:

  • Thẩm quyền giải quyết các khiếu kiện hành chính của Tòa án ngày càng được quy định theo hướng mở rộng. Cụ thể ở Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án hành chính quy định Tòa án có thẩm quyền giải quyết đối với 7 loại khiếu kiện hành chính; Theo pháp lệnh sửa đổi, bổ sung ngày 25/12/1998 thì Tòa án có thẩm quyền giải quyết đối với 9 loại khiếu kiện hành chính; Theo Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung ngày 5/4/2006 thì Tòa án có thẩm quyền giải quyết đối với 22 loại khiếu kiện. Và Luật Tố tụng hành chính hiện hành hiện nay quy định Tòa án có thẩm quyền giải quyết đối với hầu hết các khiếu kiện hành chính (trừ các quyết định hành chính, hành vi hành chính thuộc bí mật nhà nước trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh, ngoại giao và khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính mang tính nội bộ của cơ quan, tổ chức).
  • Việc ngày càng nhiều văn bản luật ra đời trên tất cả các ngành, lĩnh vực cùng với công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật được thực hiện rộng rãi nên người dân biết và quan tâm đến quyền, lợi ích hợp pháp của mình. Chính vì vậy, khi thấy quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm người dân nhờ đến cơ quan xét xử để bảo vệ quyền lợi của mình.
  • Các quy định trong pháp luật tố tụng ngày càng hoàn thiện tạo điều kiện cho việc xét xử của Tòa án ngày càng công khai, minh bạch, đảm bảo công bằng. Chính vì thế, niềm tin của người dân ngày càng tăng nên khi thấy quyền lợi bị xâm phạm, họ không còn tâm lý e dè, ngại ngùng khi đến cơ quan công quyền nữa mà làm đơn khởi kiện lên Tòa án.
  • Kinh tế nước ta đang trên đà phát triển, trên khắp các địa phương trên cả nước quá trình đô thị hóa, công nghiệp hóa đang diễn ra, cùng với quá trình này là hoạt động giải phóng mặt bằng, thu hồi đất dẫn đến quyền và lợi ích của người dân dễ bị xâm phạm. Chính vì vậy, số lượng khởi kiện ngày càng nhiều nhất là trong lĩnh vực quản lý đất đai.
  • Việt Nam chính thức trở thành viên WTO, điều này không chỉ tác động nước ta trên lĩnh vực kinh tế mà còn ảnh hưởng đến toàn ngành pháp luật của nước ta. Khi mà có nhiều điều ước quốc tế cùng với pháp luật quốc gia ra đời cùng với kinh tế thị trường ngày càng phát triển đã thúc đẩy người dân quan tâm đến pháp luật nhiều hơn và cũng giúp họ mạnh dạn đứng lên khởi kiện khi thấy quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm.

Mặc dù tăng lên về số lượng nhưng về chất lượng thụ lý vụ án hành chính còn nhiều hạn chế. Trong “báo cáo công tác xét xử” năm nào cũng tồn tại tình trạng thụ lý sai thẩm quyền, cùng với đó là tình trạng vi phạm về thủ tục thụ lý, trả lại đơn kiện hoặc đình chỉ giải quyết không đúng… diễn ra ở tất cả các địa phương trên cả nước dẫn đến tình trạng án bị sửa, bị hủy cao. Riêng trong năm 2000 trên cả nước có 52 bản án bị sửa , bị hủy theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm trên tổng số 419 vụ án được xét xử sơ thẩm, chiếm tỉ lệ 12,4%. Theo số liệu được trích từ “Tài liệu tập huấn Tòa hành chính Thành phố Hồ Chí Minh” năm 2014 thì trong năm 2013 số vụ án mà Tòa hành chính thụ lý giải quyết là 118 vụ; trong đó số án bị sửa là 9 vụ; bị hủy là 5 vụ. Như vậy tỷ lệ án bị hủy và sửa chiếm 16,1% trên tổng số án giải quyết. Trong 3 tháng đầu năm 2014, số vụ án hành chính Tòa hành chính thụ lý là 77 vụ, trong đó số án hành chính sơ thẩm bị hủy là 10 vụ; sửa 3 vụ; tỷ lệ hủy sửa chiếm 16,88% lượng án giải quyết. Tỷ lệ hủy, sửa như vậy là khá cao và cần phải được khắc phục.

2.2.2  Nguyên nhân của hạn chế

Để từng bước nâng cao chất lượng thụ lý vụ án hành chính thì trước tiên ta phải tìm được nguyên nhân thực trạng trên. Trong tình hình tố tụng hiện nay, có thể thấy một số nguyên nhân cơ bản sau:

Thứ nhất, do Tòa hành chính mới đi vào hoạt động, chưa có bề dày kinh nghiệm trong việc thụ lý án hành chính nói riêng và cả quá trình tố tụng hành chính nói chung. Ở nhiều nước trên thế giới như Thụy Điển, Pháp, Hà Lan và các nước châu Âu khác pháp luật về tố tụng hành chính của họ đã có lịch sử từ lâu đời. Do trải qua một thời gian dài đó nên pháp luật tố tụng hành chính ngày càng hoàn thiện. Tòa hành chính thuần thục các bước trong quá trình tố tụng nên việc hoạt động của Tòa rất trơn tru, ít khi gặp phải sai sót. Chính vì vậy, việc thụ lý án hành chính và cả quá trình tố tụng hiếm khi vướng các sai phạm như thụ lý sai thẩm quyền hoặc trả đơn khởi kiện sai trường hợp. Trong khi đó ở nước ta, Tòa hành chính mới đi vào hoạt động năm 1996. Mặc dù trong quá trình trao thẩm quyền giải quyết án hành chính cũng như xây dựng pháp luật tố tụng hành chính chúng ta có sự tham khảo, rút kinh nghiệm từ nước bạn tuy nhiên việc vận dụng sao cho hợp lý là khác nhau do điều kiện ở các quốc gia là khác nhau. Điều kiện này có thể là các điều kiện về tự nhiên, xã hội, về hình thức chính thể, hệ thống pháp luật, tâm lý của người dân… Chính vì vậy, để xây dựng nền tố tụng hành chính cho nước mình thì cần một khoảng thời gian khá dài để làm quen và sửa đổi sao cho phù hợp. Thực tiễn ở nước ta cũng cho thấy điều đó, khi mới đi vào hoạt động, Tòa hành chính không nhận được nhiều sự quan tâm của người dân, điều này được chứng minh bằng số lượng đơn khởi kiện rất ít tuy nhiên, trong suốt quá trình hoạt động đến nay, Tòa án ngày càng nâng cao năng lực của mình khẳng định vai trò giải quyết án hành chính trong xã hội. Thêm vào đó, cơ sở vật chất phục vụ cho quá trinh hoạt động tố tụng hành chính cũng chưa tốt. Ở nhiều nơi trên nước ta, đặc biệt là ở các khu vực nông thôn miền núi, Tòa án là nơi làm việc tạm bợ, không được trang bị đầy đủ vật chất, trang thiết bị cần thiết từ đó nảy sinh tâm lý làm việc không tập trung, làm cho có của cán bộ, thẩm phán cũng như tâm lý không tin tưởng ở người dân.

Thứ hai, pháp luật tố tụng hành chính còn nhiều bất cập về thụ lý vụ án hành chính. Pháp luật là căn cứ điều chỉnh tất cả các giai đoạn trong quá trình tố tụng hành chính trong đó có giai đoạn thụ lý vụ án hành chính. Chính vì vậy, để việc thụ lý hành chính đạt hiệu quả cao thì cần có pháp luật làm căn cứ hoàn thiện. Tuy nhiên, pháp luật tố tụng nước ta còn nhiều hạn chế, mặc dù qua nhiều lần sửa đổi bổ sung nhưng Luật Tố tụng hành chính còn nhiều bất cập trong việc quy định như tại Điều 72 Luật Tố tụng hành chính quy định: “ Người khởi kiện có nghĩa vụ cung cấp bản sao quyết định hành chính hoặc quyết định kỷ luật buộc thôi việc, quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh, bản sao quyết định giải quyết khiếu nại (nếu có), cung cấp các chứng cứ khác để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình”. Quy định này chỉ phù hợp với người khởi kiện là người trực tiếp thi hành quyết định hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc, quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh đó. Còn đối với trường hợp người khởi kiện không là người trực tiếp thi hành mà có thể là người đại diện thì việc chấp hành quy định này rất khó vì  họ khó có thể xin được bản sao của các quyết định này để nộp cho Tòa án[1].

Ngoài ra tại khoản 2 Điều 72 Luật Tố tụng hành chính quy định: “ Người bị kiện có nghĩa vụ cung cấp cho Toà án hồ sơ giải quyết khiếu nại (nếu có) và bản sao các văn bản, tài liệu mà căn cứ vào đó để ra quyết định hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc, quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh hoặc có hành vi hành chính”. Quy định này của Luật Tố tụng hành chính nhằm giúp cho việc thụ lý vụ án của Tòa án đúng đắn và tạo điều kiện cho việc giải quyết vụ án công bằng. Tuy nhiên trên thực tiễn nhiều người bị kiện không cung cấp được hoặc cố tình không cung cấp các tài liệu này cho Tòa án. Do Luật chỉ quy định đây là nghĩa vụ nhưng không quy định cho Tòa án có biện pháp xử lý nên gặp trường hợp này, Tòa án chỉ biết thụ động chờ người bị kiện cung cấp tài liệu dẫn đến vi phạm thời hạn thụ lý vụ án nói riêng và quá trình tố tụng nói chung.

Thứ ba, năng lực của một bộ phận cán bộ, Thẩm phán còn có phần hạn chế dẫn đến nhiều sai sót. Hiện nay, đội ngũ Cán bộ, Thẩm phán làm công tác thụ lý và giải quyết án hành chính không những thiếu về số lượng mà còn yếu về chất lượng. Đây cũng là minh chứng cho việc Tòa hành chính còn non trẻ. Cán bộ, Thẩm phán phải là người am hiểu pháp luật, có trình độ chuyên môn cao cũng như có những kiến thức về quản lý hành chính nhà nước. Không những vậy để việc thụ lý vụ án đạt kết quả cao yêu cầu cán bộ, Thẩm phán phải nắm bắt được nội dung căn bản của các văn bản pháp luật về hành chính và thường xuyên cập nhật văn bản mới ban hành. Như vậy, ta thấy yêu cầu đặt ra đối với cán bộ, Thẩm phán là khá cao: phải chắc về lý luận vừa nắm chắc quy định của pháp luật. Song đến nay, đội ngũ cán bộ, Thẩm phán chưa đáp ứng được yêu cầu này nên trong quá trình áp dụng pháp luật còn nhiều thiếu sót sau:

  • Nhầm lẫn trong việc xác định người bị kiện: Trong án hành chính việc xác định người bị kiện rất quan trọng, nếu việc xác định sai sẽ dẫn đến việc thụ lý sai án và có thể bị hủy bản án. Tuy nhiên việc nhầm lẫn người bị kiện là rất dễ xảy ra nhất là đối với các quyết định hành chính. Chẳng hạn như trong vụ kiện mà đối tượng khởi kiện là quyết định thu hồi đất của hộ gia đình của Ủy ban nhân dân huyện. Tuy nhiên, người khởi kiện trong vụ án khi kiện lại đòi kiện Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện. Trong trường hợp này nếu Thẩm phán xem xét đơn kiện thụ lý đơn khởi kiện và xét xử thì bản án, quyết định đó có thể bị hủy.
  • Xác định sai đối tượng khởi kiện: Đối tượng khởi kiện nếu là quyết định hành chính thì phải là quyết định hành chính lần đầu. Chính vì vậy việc xác định sai đối tượng khởi kiện là rất phổ biến. Ví dụ Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường A ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với ông B là 500.000 đồng và buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu bị thay đổi do vi phạm hành chính gây ra. Không đồng ý với các quyết định này, ông B khiếu nại lên Ủy ban nhân dân. Tuy nhiên Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường A đã ra quyết định bác đơn khiếu nại của ông B. Trong trường hợp này, quyết định giải quyết khiếu nại của Chủ tịch phường chỉ là quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu còn quyết định hành chính lần đầu vẫn là quyết định xử phạt vi phạm hành chính nhưng khi ông B khởi kiện yêu cầu Tòa án, Tòa án lại xác định đối tượng khởi kiện là quyết định giải quyết khiếu nại.
  • Xác định sai thẩm quyền: Mặc dù Luật Tố tụng hành chính hiện nay đã quy định thẩm quyền thụ lý án hành chính khá rõ ràng. Tuy nhiên do hạn chế về năng lực nên trong nhiều trường hợp việc thụ lý sai thẩm quyền vẫn xảy ra. Mà việc thụ lý sai thẩm quyền diễn ra nhiều nhất là do Thẩm phán khi xem xét đơn kiện không nhậ ra các đơn kiện có nội dung khởi kiện không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo Điều 28 Luật Tố tụng hành chính. Từ đó dẫn đến thụ lý sai thẩm quyền. Chẳng hạn như trong vụ tranh chấp đất đai giữa bà T và ông Th, Ủy ban nhân dân thị xã M (tỉnh B) ban hành quyết định giải quyết tranh chấp với nội dung buộc ông Th phải bồi hoàn cho bà T giá trị đất. Năm 2008, sau khi khiếu nại yêu cầu Uỷ ban nhân dân hủy quyết định bị bác, bà T khởi kiện ra tòa. Tòa án nhân dân thị xã M thụ lý và xác định đây là vụ án hành chính vì bà T kiện quyết định bồi thường thiệt hại thuộc lĩnh vực quản lý đất đai theo quy định tại khoản 17 Điều 11 Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án hành chính. Tòa hành chính Tòa án nhân dân Tối cao nhận xét việc Tòa án nhân dân Thị xã M thụ lý vụ án là sai thẩm quyền vì quyết định nói trên là giải quyết tranh chấp đất đai chứ không liên quan gì đến bồi thường thiệt hại. Bởi lẽ tại Mục 7 Nghị quyết số 04/2006 Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao quy định: Quyết định, hành vi hành chính về quản lý đất đai trong việc giải quyết tranh chấp đất thì trong mọi trường hợp đều không phải là đối tượng khởi kiện hành chính. Mặt khác, giải quyết tranh chấp đất và bồi thường giữa các cá nhân với nhau khác hoàn toàn với việc bồi thường hỗ trợ khi nhà nước thu hồi đất.[2]

Thứ tư, do cơ chế đảm bảo độc lập trong hoạt động của Thẩm phán chưa hiệu quả. Một đặc thù của án hành chính là có sự tham gia của đương sự là cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền trong cơ quan nhà nước. Các quyết định hành chính, hành vi hành chính là đối tượng khởi kiện thường được ban hành bởi các quan chức địa phương. Chính vì vậy, Thẩm phán thường không muốn xử án hành chính, khi giải quyết Thẩm phán thường có tư tưởng nể nang, ngại va chạm, không muốn xử án hành chính, nhất là đối với các quyết định hành chính, hành vi hành chính của Ủy ban nhân dân cùng cấp vì Thẩm phán cũng là một người dân, một Đảng viên tại địa phương nên chịu sự lành đạo của Bí thư, Chủ tịch đó.[3]Vì lẽ trên, việc Thẩm phán độc lập trong việc xét xử là rất khó ảnh hưởng đến chất lượng việc xét xử.

Thứ năm, công tác tuyên truyền phổ biến pháp luật tố tụng hành chính đến với người dân còn hạn chế. Mặc dù khi cho ra đời văn bản pháp luật mới hoặc có sự bổ sung, thay đổi văn bản pháp luật thì theo quy định của pháp luật phải đăng Công báo và các phương tiện khác nhưng trên thực tế, việc này không phát huy nhiều tác dụng. Đa số người dân Việt Nam, đặc biệt là ở vùng nông thôn điều kiện tiếp xúc với các thông tin pháp luật này rất hạn chế. Các phương tiện truyền thông như báo, đài phát thanh, đài truyền hình mặc dù cũng cố gắng đưa các chuyên mục pháp luật để người dân nắm rõ quy định trong tố tụng hành chính nói riêng và pháp luật nói chung. Tuy nhiên, các chuyên mục này nhận được rất ít sự quan tâm của người dân. Hơn nữa, cho dù họ có biết cũng chỉ biết có sự tồn tại ví dụ như sự tồn tại của Tòa hành chính chứ không thể nắm được nội dung cơ bản của Luật Tố tụng hành chính. Chính vì vậy, khi quyền lợi của mình bị xâm phạm người dân cũng không biết làm gì. Hơn nữa, không chỉ người dân mà ngay cả Thẩm phán cũng không cập nhật các văn bản kịp thời các văn bản hành chính trên các lĩnh vực để áp dụng giải quyết các vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà hành chính. Thực trạng trên cho thấy công tác  tuyên truyền, phổ biến pháp luật còn chưa tốt. Điều này dẫn đến thực trạng là các khiếu kiện hành chính rất nhiều nhưng số lượng đơn khởi kiện đến Tòa án và số lượng vụ án được thụ lý giải quyết rất ít.

Thứ sáu, do tâm lý người dân nước ta còn e de, ngại đụng chạm đến chính quyền. Nước ta đi lên từ một nước phong kiến lạc lậu, đời sống người dân chủ yếu gắn với kinh tế nông nghiệp, cùng với thôn quê lối xóm. Ở các làng quê Việt Nam thời phong kiến, tư duy pháp lý “phép vua thua lệ làng” đã ăn sâu vào tư tưởng con người. Điều này được giải thích do ngày xưa, vua ít khi ban hành các chiếu chỉ mà có ban hành thì cũng khó đến với người dân do điều kiện truyền thông hạn chế, do đó chính các lệ, các quy tắc của chính quyền địa phương mới là cái tác động điều chỉnh hành vi của dân trong làng. Từ đó, người dân dần nảy sinh tâm lý tôn sùng các quy tắc của làng mà không quan tâm nhiều đến chiếu chỉ của vua. Ngoài ra, tư duy “vô phúc đáo tụng đình” cũng ảnh hưởng đến người dân bao thế hệ nay. Với tư duy này, người dân rất ngại đưa nhau đến quan tòa đặc biệt với án hành chính, khi người mà họ đưa ra tòa là chính quyền địa phương thì người dân càng e ngại hơn do họ sợ bị trù dập, sợ thua kiện lại mất tiền án phí, sợ bị gây khó dễ sau này. Do đó, khi thấy quyền lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phại thì cũng đành chịu chứ không dám làm đơn kiện lên Tòa án. Mặc dù hiện nay nước ta đã xây dựng nhà nước pháp quyền, pháp luật đặt lên hàng đầu nhưng việc xóa bỏ tư duy phong kiến lạc hậu rất khó khăn.

Thứ bảy, công tác tổng kết xét xử án hành chính vẫn chưa được quan tâm đúng mức. Có một sự thật là trong các bản “Báo cáo công tác xét xử” hằng năm của các địa phương thì năm nào cũng như năm nào, chính vì vậy nên nó không phản ánh kịp thời những hạn chế trong pháp luật tố tụng hành chính. Về mặt lý luận, các bản báo cáo công tác xét xử không chỉ thể hiện số lượng, tình hình xét xử trong năm mà đó còn là dịp để cá nhân, cơ quan có thẩm quyền nhìn nhận một cách nghiêm túc trong năm qua việc áp dụng pháp luật tố tụng hành chính đạt kết quả đến đâu và còn những vướng mắc gì, từ đó đưa ra các giải pháp khắc phục. Tuy nhiên, các bản báo cáo này ở nước ta chủ yếu là chỉ khác nhau về con số còn các nội dung khác thì năm này với năm sau như một. Chính vì sự sơ sài, hình thức này nên hoạt động tố tụng hành chính nói chung và thụ lý vụ án hành chính nói riêng khó có thể nâng cao chất lượng.

2.2 Một số kiến nghị nâng cao chất lượng công tác thụ lý vụ án hành chính

Thứ nhất, hoàn thiện các quy định của pháp luật

Pháp luật tố tụng tiêu biểu là Luật tố tụng hành chính là cơ sở pháp lý cho mọi hoạt động tố tụng trong đó có thụ lý vụ án hành chính. Vì vậy, để việc thụ lý vụ án hành chính đạt hiệu quả cao thì yêu cầu trước mắt là phải nhận ra các quy định không hợp lý, các điểm mới cần bổ sung hoặc lược bớt  đi nhằm xây dựng pháp luật tố tụng hoàn chỉnh. Mặc dù Luật Tố tụng hành chính hiện nay đã được xây dựng hoàn chỉnh và việc áp dụng nó đạt được phản hồi tích cực tuy nhiên vẫn còn các vấn đề nên sửa đổi, bổ sung như sau:

  • Sửa đổi quy định về nghĩa vụ cung cấp chứng cứ của người khởi kiện và người bị kiện trong án hành chính: Như đã trình bày ở phần nguyên nhân, quy định về nghĩa vụ cung cấp chứng cứ tại khoản 1, 2 Điều 72 Luật Tố tụng hành chính hiện nay là một vấn đề cần khắc phục. Vì thế cho nên để quy định này được áp dụng hiệu quả trên thực tiễn cần các giải pháp như:
  • Không quy định nghĩa vụ cung cấp bản sao quyết định hành chính, hành vi hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi viêc, quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh đối với người khởi kiện không là người trực tiếp thi hành các quyết định đó. Bởi vì trong một số trường hợp, việc thực hiện nghĩa vụ này là khó khăn mà nếu không thực hiện thì theo quy định hiện nay, Tòa án sẽ xem như không đủ thủ tục và không thụ lý. Điều này là bất lợi cho người khởi kiện. Vì vậy thay vì quy định đây là nghĩa vụ bắt buộc của người khởi kiện thì Luật Tố tụng hành chính  nên quy định thoáng hơn là chỉ cần người khởi kiện chứng minh có sự tồn tại và nội dung của đối tượng khởi kiện đó. Đồng thời ràng buộc trách nhiệm của người bị kiện hợp tác trong việc cung cấp tài liệu, chứng cứ cho vụ án.

  • Tại khoản 2 Điều 72 Luật Tố tụng hành chính cần quy định thêm thời hạn cụ thể để người bị kiện cung cấp tài liệu, chứng cứ liên quan theo yêu cầu của Tòa án. Không chỉ vậy, để tránh trường hợp người bị kiện cố tình né tránh cung cấp thì Luật Tố tụng hành chính còn quy định thêm biện pháp xử lý của Tòa án và hậu quả bất lợi cho người bị kiện. Ví dụ như hết thời hạn cung cấp tài liệu, chứng cứ mà người bị kiện chưa thực hiện nghĩa vụ của mình và cũng không có lý do chính đáng thì coi như từ bỏ quyền, nghĩa vụ của mình trong vụ kiện và phải chịu chấp hành phán quyết của Tòa án theo quy định của pháp luật.

  • Bổ sung quy định khi ban hành quyết định hành chính thì cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền phải có điều khoản thông báo cho cá nhân, cơ quan, tổ chức về thời hiệu khởi kiện: Thời hiệu khởi kiện là một trong những điều kiện bắt buộc phải có để Tòa án thụ lý vụ án hành chính. Tuy nhiên không phải ai cũng biết được thời hiệu khởi kiện đối với từng quyết định cụ thể là như thế nào. Điều này dẫn đến tình trạng khi cá nhân, cơ quan, tổ chức tuy biết quyền, lợi ích bị xâm phạm nhưng nghĩ đã hết thời hiệu khởi kiện nên không làm đơn khởi kiện hoặc ngược lại là nghĩ thời hiệu còn dài nên không làm hồ sơ khởi kiện ngay lập tức, đến khi khởi kiện thì đã hết thời hiệu. Vì vậy cho nên trên các quyết định hành chính, ngoài nội dung thông thường cần quy định rõ những nội dung như người nhận quyết định có quyền khởi kiện hay không, nếu có thì kiện lên đâu và trong thời gian nào?[4]. Việc quy định như trên không chỉ giúp người dân biết thời hiệu khởi kiện, nơi khởi kiện mà còn là biện pháp khuyến khích việc khiếu kiện trong người dân góp phần làm cho nền hành chính ngày một phát triển.
  • Cần có hướng dẫn về việc áp dụng thời hiệu khởi kiện đối với quyết định hành chính ban hành trước ngày 1/7/2011: Ngày 1/7/2011 Luật Tố tụng hành chính 2010 chính thức có hiệu lực, trước ngày này thì hoạt động tố tụng hành chính chịu sự điều chỉnh của Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính (sửa đổi, bổ sung 2006). Mà 2 văn bản này quy định có sự khác nhau về thời hiệu khởi kiện (Luật Tố tụng hành chính quy định thời hiệu khởi kiện dài hơn so với Pháp lệnh). Chính vì vậy có những trường hợp ngày nhận được, biết được quyết định hành chính, hành vi hành chính là trước ngày 1/7/2011 nhưng sau 1/7/2011 khởi kiện thì cách trả lời của Tòa án là khác nhau. Ví dụ như ngày A biết được quyết định xử phạt vi phạm hành chính là ngày 1/5/2011, A không khiếu nại, khởi kiện ra tòa. Đến 1/3/2012 A làm đơn khởi kiện gửi đến Tòa án. Trong trường hợp này nếu chỉ căn cứ vào Pháp lệnh vì thời điểm A nhận được quyết định hành chính là thời điểm Pháp lệnh đang còn hiệu lực và đang được áp dụng thì thời hiệu khởi kiện đã hết (Theo quy định tại Điều 30 Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án hành chính thì trong trường hợp này thời hiệu khởi kiện là 30 ngày). Tuy nhiên, Luật Tố tụng hành chính 2010 kéo dài thời hiệu này là 1 năm, vì vậy tại thời điểm A khởi kiện thì thời hiệu khởi kiện vẫn còn. Chính vì không có hướng dẫn nên trong những tình huống như thế này, Tòa án rất bối rối không biết giải quyết thế nào cho phù hợp. Do đó, cần có hướng dẫn cụ thể để làm căn cứ áp dụng. Có thể quy định theo hướng nếu ngày khởi kiện còn thời hiệu theo quy định của Luật 2010 thì Tòa án có thể thụ lý mà không cần quan tâm ngày biết được, nhận được quyết định vì quy định như vậy là có lợi hơn cho người khởi kiện.

Thứ hai, nâng cao năng lực của cán bộ, Thẩm phán thụ lý, giải quyết án hành chính.

Cán bộ, Thẩm phán thụ lý, giải quyết án hành chính là nhưng người đóng vai trò chủ chốt, quyết định cho chất lượng hoạt động tố tụng hành chính. Tuy nhiên, nước ta hiện nay đang thiếu nguồn cán bộ, Thẩm phán có trình độ, năng lực thật sự. Điều này không chỉ do các nguyên nhân khách quan như Tòa hành chính còn non trẻ nên Thẩm phán chưa có nhiều kinh nghiệm mà còn do các nguyên nhân chủ quan là trình độ chuyên môn, kiến thức lý luận và thực tiễn của cán bộ, thẩm phán. Chính vì vậy trong thời gian tới cần có phương án để nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, thẩm phán. Các phương án có thể áp dụng như:

  • Tổ chức thi để tuyển dụng cán bộ, Thẩm phán. Cán bộ, Thẩm phán để có thể làm tốt công việc của mình thì trước tiên phải có kiến thức, trình độ chuyên môn vững vàng. Để kiểm tra trình độ này thì việc tổ chức thi nghiêm túc là cần thiết. Đây cũng là hành thức được áp dụng rộng rãi trong thời gian gần đây nhằm tìm kiếm những người đủ tài, đức cho ngành tư pháp. Chỉ những người đủ điều kiện về bằng cấp, kinh nghiệm… theo quy định mới có thể tham gia thi và các quy trình tổ chức thi là nghiêm túc, không tiêu cực. Như vậy, cá nhân muốn làm việc trong ngành tòa án nói chung và Tòa hành chính nói riêng phải chuẩn bị kiến thức, kinh nghiệm đầy đủ. Cùng với đó để tránh các tiêu cực xảy ra như đút lót, chạy tiền thì cần có quy định đủ mạnh để xử lý để đảm bảo việc tuyển chọn là công bằng, hợp pháp.
  • Tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng kiến thức cho đội ngũ cán bộ, thẩm phán. Bởi vì Tòa hành chính không có bề dày lịch sử nên việc cán bộ, Thẩm phán thiếu kinh nghiệm trong thụ lý, giải quyết án hành chính là điều tất yếu. Không chỉ vậy, đối tượng xét xử của án hành chính là các quyết định hành chính, hành vi hành chính trái pháp luật vì vậy đòi hỏi cán bộ, Thẩm phán phải có kiến thức trong lĩnh vực quản lý hành chính Nhà nước. Vì vậy,công tác giáo dục, bồi dưỡng kiến thức cho cán bộ, Thẩm phán là việc làm cần thiết. Bên cạnh đó, bản thân mỗi cán bộ, Thẩm phán phải tự học hỏi, nâng cao năng lực, hiểu biết của bản thân để hoàn thành nhiệm vụ tốt hơn.

Thứ ba, đổi mới chế độ tiền lương, chế độ đãi ngộ đối với cán bộ, thẩm phán.

Trong những năm gần đây, vấn đề lương bổng đối với cán bộ, thẩm phán là vấn đề thường xuyên được nhắc đến trong các cuộc họp, thảo luận. Theo đó,nhiều ý kiến chi rằng việc trả lương như hiện nay là không phù hợp với vị trí, vai trò, trách nhiệm của người công tác trong ngành tòa án. Việc mức lương phù hợp sẽ dẫn đến rất nhiều hệ lụy mà một trong số đó là tình trạng tiêu cực trong tòa án như nhận hối lộ, quan liêu… Không những vậy, với mức lương không đảm bảo cuộc sống, nhiều cán bộ, Thẩm phán phải bỏ nghề dẫn đến nguồn nhân lực cho Tòa án ngày càng mỏng và yếu. Ngoài ra, mức lương không tương xứng với lao động còn khiến đội ngũ cán bộ, thẩm phán không thể chuyên tâm làm việc, tận tụy với nghề được. Chính vì vậy, để nâng cao chất lượng thụ lý vụ án cũng như chất lượng xét xử của Tòa án thì việc đổi mới chế đột tiền lương, phụ cấp, đãi ngộ đối với cán bộ, Thẩm phán là điều cần thiết. Làm được điều này sẽ góp phần phòng chống tiêu cực trong ngành tòa án đồng thời khuyến khích, động viên cán bộ, thẩm phán yên tâm công tác, nâng cao tinh thần trách nhiệm và thái độ phục vụ nhân dân.

Thứ tư, đổi mới mô hình tổ chức Tòa án nhân dân

Tòa án nhân dân nước ta hiện nay được tổ chức theo đơn vị hành chính lãnh thổ. Tại mỗi huyện thì có Tòa án nhân dân cấp huyện, mỗi tỉnh có Tòa án nhân dân cấp tỉnh. Việc tổ chức theo mô hình này bộc lộ nhiều hạn chế mà nổi bật nhất là không tạo được cơ chế làm việc của Tòa án với cơ quan hành chính tại địa phương. Tòa án đặt trên lãnh thổ nơi cơ quan hành chính thực hiện chức năng quản lý của mình, bản thân mỗi Thẩm phán cũng là Đảng viên nên chịu sự lãnh đạo của Bí thư, Chủ tịch huyện hoặc tỉnh đó. Án hành chính lại thường liên quan đến người có thẩm quyền hoặc cơ quan hành chính có thẩm quyền, trong đó có các quyết định hành chính được các cấp Ủy Đảng, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân thông qua. Điều này làm Tòa án địa phương và Thẩm phán xem xét đơn kiện rất khó khăn trong việc thể hiện quan điểm của mình đối với những vi phạm đó[5]. Hơn nữa, việc tổ chức không căn cứ vào các đặc điểm dân cư, số lượng khởi kiện như trên dễ dẫn đến tình trạng có tòa án xử không hết còn tòa khác, đặc biệt là các tòa ở khu vực miền núi mỗi năm lác đác vài vụ. Chính vì vậy, việc tổ chức tòa án cấp sơ thẩm theo khu vực là một giải pháp đúng đắn. Thay vì tòa án được tổ chức theo địa hạt hành chính như hiện nay thì việc tổ chức tòa án khu vực sẽ căn cứ vào đặc điểm địa lý, tính chất dân cư, số vụ khởi kiện hằng năm để thành lập. Việc tổ chức tòa án theo mô hình này sẽ góp phần tăng cường tính độc lập, khách quan và tuân theo pháp luật trong việc thụ lý và xét xử của Tòa án. Đồng thời giải quyết được tình trạng có Tòa án quá tải trong khi một số tòa rất ít việc gây lãng phí nguồn nhân lực, vật lực. Đồng thời, để đưa tòa án gần với dân hơn thì các tòa sơ thẩm này còn thành lập “chân rết” ở các xã, thôn bản để tiện cho người dân. Việc thành lập các tòa con này là giải pháp khắc phục tình trạng bất tiện của người dân do điều kiện đi lại tòa án khó khăn.

Thứ năm, thực hiện có hiệu quả công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật.

Tuyên truyền, phổ biến và giáo dục pháp luật là hoạt động mang tính chất toàn xã hội với phương châm không ai được coi như không biết pháp luật. Chính vì vậy, việc tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật là nghĩa vụ và trách nhiệm của nhà nước[6]. Do đó Nhà nước cần đẩy mạnh  hơn nữa các giải pháp tuyên truyền, giáo dục nhằm đưa chính sách pháp luật đến với người dân. Dân biết và nắm rõ các nội dung cơ bản của pháp luật thì pháp luật mới có thể thực hiện hiệu quả. Đối với pháp luật về thụ lý vụ án hành chính cũng vậy, trước tiên phải có các giải pháp để các quy định đến tay người dân, cụ thể là:

  • Đa dạng hóa các hình thức tuyên truyền, phổ biến pháp luật: Hiện nay việc tuyên truyền pháp luật được thực hiện chủ yếu trên các kênh truyền thông như đài phát thanh, đài truyền hình, sách, báo, tạp chí. Ưu điểm của các hình thức tuyên truyền này là phạm vi tuyên truyền rộng rãi, nhanh chóng. Tuy nhiên việc tuyên truyền pháp luật là một vấn đề khá khô khan nên thực tiễn các chương trình phổ biến pháp luật này không đạt được hiệu quả cao. Chính vì vậy, để thu hút sự quan tâm của người dân thì yêu cầu đặt ra là phải có sự sáng tạo trong các chuyên mục pháp luật trên báo, đài, truyền hình… Hiện nay, nhiều chương trình tuyên truyền có sự thay đổi hình thức như thay vì việc thông báo, phân tích văn bản pháp luật thì nay thay bằng việc tổ chức các cuộc thi tìm hiểu pháp luật; phổ biến pháp luật thông qua các tình huống; đưa ra câu hỏi kèm theo giải thưởng cho người thắng cuộc;… Các hình thức này không chỉ thu hút sự theo dõi của công chúng mà còn để người dân chủ động trong việc tìm hiểu, cập nhật văn bản pháp luật từ đó nâng cao hiệu quả tuyên truyền. Bên cạnh đó, cần tổ chức nhiều hơn nữa các buổi tuyên truyền pháp luật ở các địa phương, đặc biệt là các khu vực nông thôn, miền núi nơi người điều kiện thông tin còn hạn chế. Đây là hình thức trực tiếp nhất, thông qua các buổi tuyên truyền này, cán bộ pháp lý có thể phổ biến nhiều nội dung pháp luật đến với người dân, chỉ rõ các văn bản pháp luật mới ban hành, các trường hợp khởi kiện vụ án hành chính, điều kiện về thời hiệu… Không chỉ vậy, bằng những cuộc gặp trực tiếp này còn giúp nắm bắt được tâm tư, nguyện vọng, lắng nghe ý kiến phản ánh của người dân về pháp luật để ngày càng hoàn thiện hơn.
  • Tăng cao và ổn định nguồn kinh phí dành cho hoạt động tuyên tuyền, phổ biến, giáo dục pháp luật. Để hoạt động tuyên truyền pháp luật diễn ra có hiệu quả và dài hạn thì cần có nguồn kinh phí phục vụ cho hoạt động này. Tuy nhiên hiện nay các chính sách phân bổ kinh phí cho địa phương thực hiện hoạt động tuyên truyền pháp luật còn hạn chế. Các buổi tuyên truyền chủ yếu được tổ chức bằng nguồn kinh phí từ các đơn vị đóng góp. Chính vì vậy, hoạt động tuyên truyền pháp luật khó có thể được tổ chức với quy mô lớn và thường xuyên được.Vì thế để hoạt động này diễn ra hiệu quả thì hơn hết cần có chính sách phân bổ nguồn kinh phí phù hợp cũng như chế độ phụ cấp dành cho người làm công tác tuyên truyền pháp luật.

Thứ sáu, nâng cao hiệu quả hoạt động báo cáo công tác xét xử.

Báo cáo công tác xét xử hằng năm của các Tòa án không chỉ là thống kê số liệu về xét xử trong năm mà còn thể hiện những hạn chế trong quá trình hoạt động của Tòa án. Đối với hoạt động thụ lý vụ án, là giai đoạn đầu tiên trong quá trình tố tụng có ý nghĩa đến toàn bộ quá trình tố tụng. Vì vậy hoạt động này cần được quan tâm kịp thời, đúng mức hơn trong báo cáo công tác xét xử. Cần xác định rõ những mặt tích cực đạt được trong năm và đặc biệt là những khó khăn, vướng mắc còn tồn tại và đề ra phương hướng hoạt động tiếp theo. Để làm được điều này, bản thân mỗi Thẩm phán trong quá trình giải quyết vụ án cần phải xem trọng việc tổng kết xét xử vụ án hành chính và rút kinh nghiệm. Điều này sẽ góp phần nâng cao hiệu quả thụ lý vụ án hành chính nói riêng và hoạt động tố tụng hành chính nói chung.

 

KẾT LUẬN

Đảm bảo công bằng, bình đẳng giữa công dân với Nhà nước là trách nhiệm cao cả của các cấp Tòa án. Ở nước ta, từ khi chính thức đi vào hoạt động đến nay, Tòa hành chính vẫn đang từng bước hoàn thiện và khẳng định vai trò của mình. Tuy nhiên, để hoạt động tố tụng hành chính của Tòa án đạt chất lượng cao thì giai đoạn thụ lý vụ án hành chính rất quan trọng. Đây là giai đoạn đầu tiên có ý nghĩa xác định có hay không các bước tiếp theo trong quá trình tố tụng. Như vậy, ngay từ bước đầu tiên này phải đúng pháp luật thì các bước sau mới có thể đúng. Nhận được tầm quan trọng này, trong những năm qua Đảng và Nhà Nước đã chú trọng hoàn thiện pháp luật về thụ lý vụ án hành chính. Tuy nhiên, thực trạng cho thấy hoạt động này còn nhiều bất cập, hạn chế. Án hành chính so với các án khác như hình sự, dân sự, kinh tế… vẫn chiếm tỷ lệ thấp, điều đó chứng tỏ sự quan tâm cũng như niềm tin của người dân vào Tòa hành chính chưa cao. Bên cạnh đó, tình trạng thụ lý sai thẩm quyền, trả đơn khởi kiện không đúng,… còn tồn tại trên tất cả các địa phương. Để khắc phục được tình trạng này thì việc hoàn thiện các quy định của pháp luật là yêu cầu đầu tiên và quan trọng nhất. Ngoài ra, các hoạt động tuyên truyền, giáo dục pháp luật cần được thực hiện có hiệu quả. Song song với đó là nâng cao trình độ, năng lực đội ngũ cán bộ, Thẩm phán trong ngành Tòa án.

Mặc dù công tác thụ lý cũng như xét xử các vụ án hành chính trong những năm qua còn nhiều bất cập, thiếu sót. Nhưng có một điều đáng mừng là việc thụ lý vụ án hành chính ngày càng tốt hơn. Điều này được thể hiện qua số lượng đơn kiện cũng như số lượng án được thụ lý ngày càng nhiều. Không chỉ vậy chất lượng thụ lý cũng được cải thiện, tỷ lệ án bị sửa, bị hủy ngày càng thấp. Điều đó chứng tỏ chúng ta đang đi đúng hướng trong quá trình xây dựng Tòa hành chính. Đồng thời thể hiện quyết tâm của Đảng, Nhà nước trong việc chăm lo quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức nhằm xây dựng nền hành chính trong sạch, vững mạnh, đáp ứng yêu cầu của xã hội.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Luật tố tụng hành chính 2010
  2. Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án hành chính 1996
  3. Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án hành chính (sửa đổi, bổ sung 1998)
  4. Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án hành chính (sửa đổi, bổ sung 2006)
  5. Nghị quyết 02/2011/NQ-HĐTP Hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật Tố tụng hành chính
  6. Nghị quyết 01/2015/NQ-HĐTP Sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số 02/2011/NQ-HĐTP ngày 29 tháng 7 năm 2011 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn một số quy định của Luật tố tụng hành chính
  7. Nghị quyết 04/2006/NQ-HĐTP ngày 04/08/2006 Hướng dẫn thi hành thủ tục giải quyết các vụa án hành chính theo pháp lệnh sửa đổi 2006
  8. Bộ Luật dân sự 2005
  9. Luật đất đai 2013
  10. Pháp luật Bảo vệ Nhà nước năm 2000
  11. Pháp lệnh án phí, lệ phí Tòa án năm 2009
  12. Báo cáo công tác xét xử các năm 1996-2013 Tòa án nhân dân Tối cao
  13. Báo cáo HĐND của Tòa án nhân dân Thành Phố Hà Nội Năm 2012
  14. Đại học Luật TP.HCM, “Giáo trình Luật Tố tụng hành chính”, NXB Hồng Đức, Năm 2012.

15.Nguyễn Cửu Việt, Giáo trình Luật hành chính Việt Nam, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội.

  1. Đại học Quốc gia Hà nội, Giáo trình Luật Tố tụng hành chính.
  2. Đại từ điển Tiếng Việt. NXB Văn hoá thông tin- Trung tâm ngôn ngữ và văn hoá Việt Nam. Năm 1998.
  3. Nguyễn Thanh Phương (2012), Luận văn Khởi kiện và thụ lý vụ án hành chính (từ thực tiễn Thành phố Hồ Chí Minh).
  4. Nguyễn Thị Minh Hải (2008), Khởi kiện và thụ lý vụ án hành chính.
  5. Tài liệu Tập huấn Tòa án Thành phố Hồ Chí Minh 2014.
  6. doko.vn.
  7. m.phapluattp.vn.
  8. fdvn.vn.
  9. moj.gov.vn.
  10. tand.hochiminhcity.gov.vn.
  11. hocvientuphap.edu.vn.

 

[1] Theo Nguyễn Thanh Phương_Luận văn Khởi kiện và thụ lý vụ án hành chính (từ thực tiễn Thành Phố Hồ Chí Minh) năm 2012

[2] http://fdvn.vn/An-hanh-chinh-nhieu-sai-sot-ve-tham-quyen

[3] Theo Nguyễn Thanh Phương Luận văn khởi kiện và thụ lý vụ án hành chính (từ thực tiễn Thành Phố Hồ Chí Minh) năm 2012

[4] Theo Nguyễn Thanh Phương Luận văn Khởi kiện và thụ lý vụ án hành chính (từ thực tiễn Thành Phố Hồ Chí Minh) năm 2012

[5] http://m.phapluattp.vn/phap-luat-chu-nhat/an-hanh-chinh-nhieu-sai-sot-ve-to-tung-70216.html

[6] http://doko.vn/103094/thu-ly-vu-an-hanh-chinh-thuc-trang-va-giai-phap

 

 

Tham khảo thêm:


TỔNG ĐÀI LUẬT SƯ 1900 0191 - GIẢI ĐÁP PHÁP LUẬT TRỰC TUYẾN MIỄN PHÍ MỌI LÚC MỌI NƠI
Trong mọi trường hợp do tính cập nhật của văn bản pháp luật và sự khác nhau của từng tình huống, việc tự áp dụng sẽ dẫn đến hậu quả không mong muốn.
Để được tư vấn hướng dẫn trực tiếp cho tất cả các vướng mắc, đưa ra lời khuyên pháp lý an toàn nhất, quý khách vui lòng liên hệ Luật sư - Tư vấn pháp luật qua điện thoại 24/7 (Miễn phí) số: 1900.0191 để gặp Luật sư, Chuyên viên tư vấn pháp luật.

Bộ phận tư vấn pháp luật – Công ty luật LVN