Trang chủ - Phân tích Tội lây truyền HIV cho người khác

Phân tích Tội lây truyền HIV cho người khác

TỘI LÂY TRUYỀN HIV CHO NGƯỜI KHÁC ( ĐIỀU 117 )

Lây truyền HIV cho người khác là hành vi của một người biết mình bị nhiễm HIV mà cố ý lây truyền bệnh cho người khác dưới bất kỳ hình thức nào.

HIV theo tiếng Anh là: “Human Immunodeficiency Virus” có nghĩa là vi rút làm suy giảm miễn dịch ở người, là vi rút gây bệnh SIDA.

Còn SIDA theo tiếng Pháp là: “Syndrome Immuno Deficitaire Acquis” có nghĩa là hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải, viết tắt là AIDS, là căn bệnh mất khả năng miễn dịch, gây tử vong.

Bị nhiễm HIV ở giai đoạn AIDS là bệnh rất nặng có nhiều khả năng gây tử vong

Đây là tội danh mới lần đầu tiên được quy định trong Bộ luật hình sự nước ta nhằm đáp ứng yêu cầu của việc đấu tranh phòng chống một căn bệnh nguy hiểm cho loài người, nhưng chưa tìm ra phương thuốc đặc trị, đồng thời đáp ứng được thực tiễn xét xử trong những năm vừa qua đối với các tội xâm phạm tính mạng, sức khoẻ con người.

CÁC DẤU HIỆU CỦA TỘI PHẠM

  1. Đối với người phạm tội

Chủ thể của tội phạm này có thể nói là chủ thể đặc biệt, tức là chỉ những người bị nhiếm HIV mới có thể phạm tội này. Người bị nhiễm HIV là người đã bị vi rút HIV xâm nhập vào cơ thể và được các cơ quan Y tế xét nghiệm và kết luận đã bị nhiễm HIV.

Người phạm tội phải biết mình bị nhiễm HIV mà cố ý lây truyền cho người khác thì mới phạm tội, nếu người phạm tội bị nhiễm HIV, nhưng không biết mình nhiễm mà lây truyền HIV cho người khác thì chưa cấu thành tôi phạm này.

Theo điều văn của điều luật thì chỉ cần biết mình bị nhiễm HIV mà cố ý lây truyền cho người khác là đã cấu thành tội phạm chứ không cần phải biết mình bị AIDS mà cố ý lây tuyền cho người khác mới phạm tội. Vì vậy, chỉ cần xác định người phạm tội bị nhiễm HIV chứ không cần xác định người phạm tội đã bị bệnh ở giai đoạn AIDS.

Cố ý lây truyền HIV cho người khác là mong muốn hoặc để mặc cho nạn nhân bị nhiễm HIV. Nếu do vô tình làm cho nạn nhân bị nhiễm HIV thì người phạm tội chưa bị coi là có tội lây truyền HIV cho người khác.

Hành vi lây truyền HIV được thực hiện dưới nhiều hình thức như: thông qua việc quan hệ tình dục ( giao cấu), tiêm chích hoặc những hành vi khác lây qua hệ thống tuần hoàn ( qua đường máu).

  1. Đối với người bị hại

Người bị hại ( nạn nhân) là người bị lây truyền HIV do hành vi của người phạm tội gây ra. Người bị lây truyền HIV bị nhiễm HIV thì người phạm tội mới bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội lây truyền HIV, nếu người phạm tội đã thực hiện hành vi lây truyền HIV cho người khác nhưng nạn nhân lại không bị nhiễm HIV thì nói chung không nên truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội. Tuy nhiên, nếu nạn nhân chưa bị nhiễm HIV mà lại phạm tội trong những trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 117 Bộ luật hình sự thì người phạm tội vẫn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội phạm này nhưng ở giai đoạn chưa đạt.

Việc xác định người bị hại có bị nhiếm HIV hay không là căn cứ vào kết luận của Hội đồng giám định pháp y, nếu kết quả giám định của Hội đồng giám định còn có những vấn đề chưa rõ thì yêu cầu giám định lại.

 

NHỮNG TRƯỜNG HỢP PHẠM TỘI CỤ THỂ

  1. Lây truyền HIV cho một người và không thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 117 Bộ luật hình sự ( khoản 1 Điều 117)

Trường hợp người phạm tội chỉ lây truyền HIV cho một người và không thuộc trường hợp phạm tội quy định tại các điểm từ a đến d khoản 2 Điều 117 Bộ luật hình sự thì người phạm tội bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo khoản 1 Điều 117 có khung hình phạt từ một năm đến ba năm tù. Đây là trường hợp phạm tội ít nghiêm trọng, nếu người phạm tội có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự thì có thể chuyển sang hình phạt khác nhẹ hơn hoặc nếu có đủ điều kiện quy định tại Điều 60 Bộ luật hình sự thì có thể cho người phạm tội được hưởng án treo.

  1. Phạm tội đối với nhiều người ( điểm a khoản 2 Điều 117 )

Lây truyền HIV đối với nhiều người là biết mình bị nhiễm HIV mà cố ý lây truyền cho từ hai người trở lên, nếu chỉ cố ý truyền HIV cho một người còn người khác là vô tình người phạm tội chỉ bị bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo khoản 2 Điều 117 Bộ luật hình sự.

Trường hợp cố ý lây truyền HIV cho nhiều người nhưng chỉ có một người bị nhiễm còn các người khác không bị nhiễm HIV thì người phạm tội vần bị truy cứu trách nhiệm hình sự về trường hợp” đối với nhiều người”. Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt Toà án có thể cân nhắc giảm nhẹ một phần hình phạt cho người phạm tội vì hành vi phạm tội của bị cáo chỉ hoàn thành đối với một người còn những người khác là phạm tội chưa đạt.

Nếu tất cả những người bị lây truyền HIV đều không bị nhiễm HIV thì người phạm tội vẫn bị truy coi là phạm tội đối với nhiều người, nhưng tính chất nguy hiểm của hành vi phạm tội không bằng trường hợp có một người hoặc nhiều người bị nhiễm HIV và nếu người phạm tội có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự thì có thể được Toà án áp dụng mức hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 117 ( là khung hình phạt liền kề với khung hình phạt ở khoản 2 Điều 117 Bộ luật hình sự).

  1. Phạm tội đối với người chưa thành niên ( điểm b khoản 2 Điều 117)

Trường hợp phạm tội này, người bị nhiễm HIV ( người bị hại) là người chưa thành niên ( người dưới 18 tuổi). Việc xác định tuổi của người bị hại trong trường hợp phạm tội cũng như đối với các trường hợp phạm tội đối với người chưa thành niên trong các tội phạm xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, nhân phẩm, danh dự con người khác không phụ thuộc vào ý thức chủ quan của người phạm tội mà chỉ căn cứ vào tuổi thật của người bị hại. Tuổi thật của người bị hại là căn cứ vào giấy khai sinh hoặc giấy tờ có căn cứ xác định tuổi thật của người bị hại. Trường hợp đã làm hết mọi cách mà không xác định được tuổi thật của người bị hại thì áp dụng nguyên tắc xác định tuổi của người bị hại theo hướng có lợi cho người phạm tội.

  1. Phạm tội đối với thầy thuốc hoặc nhân viên y tế trực tiếp chữa bệnh cho mình ( điểm c khoản 2 Điều 117)

Người bị hại trong trường hợp phạm tội này là người trực tiếp chữa bệnh cho người phạm tội họ có thể là Bác sỹ, Y sỹ, Y tá, Hộ lý hoăc nhân viên y tế khác. Nếu người phạm tội lây truyền HIV cho thầy thuốc hoặc nhân viên y tế, nhưng những người này không trực tiếp chữa bệnh cho người phạm tội thì người phạm tội không bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo điểm c khoản 2 Điều 117.

Thầy thuốc hoặc nhân viên y tế trực tiếp chữa bệnh cho người phạm tội có thể chữa bệnh AIDS do vi rút HIV gây ra nhưng cũng có thể chữa bệnh khác cho người phạm tội mà người phạm tội lại cố ý lây truyền HIV cho thầy thuốc hoặc nhân viên y tế chữa các bệnh đó cho mình thì người phạm tội vẫn bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo điểm c khoản 2 Điều 117 Bộ luật hình sự) .

  1. Phạm tội đối với người thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân ( điểm d khoản 2 Điều 117)

Trường hợp phạm tội này cũng tương tự như trường hợp cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác quy định tại điểm k khoản 1 Điều 104 Bộ luật hình sự. Tuy nhiên, trường hợp phạm tội này người phạm tội không vì động cơ cản trở người thi hành công vụ mà có thể vì bất cứ động cơ nào. Tuy nhiên, nếu vì lý do công vụ của nạn nhân mà người phạm tội có ý truyền HIV cho họ thì cần xác định nạn nhân phải là người đã thi hành một công vụ và vì việc thi hành công vụ đó mà bị người phạm tội cố ý lây truyền HIV cho họ thì người phạm tội mới bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo điểm d khoản 2 Điều 117 Bộ luật hình sự.

Phạm tội thuộc một trong các trường hợp: đối với nhiều người; đối với người chưa thành niên; đối với thầy thuốc hoặc nhân viên y tế chữc bệnh cho mình; đối với người thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân thì người phạm tội bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo khoản 2 Điều 117 Bộ luật hình sự có khung hình phạt từ ba năm đén bảy năm tù.

Người phạm tội lây truyền HIV cho người khác không bị áp dụng các hình phạt bổ sung, bởi lẽ họ người bị nhiễm HIV, việc áp dụngcác hình phạt bổ sung đối với họ không có ý nghĩa đối với việc phòng ngừa tội phạm.

Tham khảo thêm:


TỔNG ĐÀI LUẬT SƯ 1900 0191 - GIẢI ĐÁP PHÁP LUẬT TRỰC TUYẾN MIỄN PHÍ MỌI LÚC MỌI NƠI
Trong mọi trường hợp do tính cập nhật của văn bản biểu mẫu pháp luật và sự khác nhau của từng tình huống, việc tự áp dụng sẽ dẫn đến hậu quả không mong muốn.
Để được tư vấn hướng dẫn trực tiếp cho tất cả các vướng mắc, đưa ra lời khuyên pháp lý an toàn nhất, quý khách vui lòng liên hệ Luật sư - Tư vấn pháp luật qua điện thoại 24/7 (Miễn phí) số: 1900.0191 để gặp Luật sư, Chuyên viên tư vấn pháp luật.

Bộ phận tư vấn pháp luật – Công ty luật LVN

1900.0191