Trang chủ - Không kết hôn thì có được hưởng thừa kế không

Không kết hôn thì có được hưởng thừa kế không

Câu hỏi được gửi từ khách hàng: Không kết hôn thì có được hưởng thừa kế không?

Tôi sống cùng chồng tôi đến nay đã được 12 năm, hồi đó chúng tôi không đăng ký kết hôn, lâu dần cũng quên mất chuyên đó, cứ sống như vậy với nhau thôi, cuộc sống cũng tốt và chúng tôi có với nhau 2 con chung cùng 1 căn nhà mang tên anh ấy, hai bên gia đình đều ủng hộ và coi là con cái trong nhà, giờ anh ấy bị tai nạn lao động ngoài công trường nên vừa mất được 1 tháng trong bệnh viện, gia đình đã lo xong hết hậu sự rồi, nhưng tôi muốn hỏi giờ căn nhà chung của chúng tôi sẽ được xử lý thế nào?


 Không kết hôn thì có được hưởng thừa kế không?
Không kết hôn thì có được hưởng thừa kế không?

Luật sư Tư vấn Không kết hôn thì có được hưởng thừa kế không – Gọi 1900.0191

1./ Thời điểm xảy ra tình huống pháp lý

Ngày 12 tháng 12 năm 2017

2./ Cơ sở văn bản Pháp Luật áp dụng

  • Bộ luật Dân sự 2015
  • Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật Hôn nhân và gia đình

3./ Luật sư trả lời

Căn cứ Bộ luật Dân sự 2015 quy định về quyền thừa kế như sau:

Điều 609. Quyền thừa kế

Cá nhân có quyền lập di chúc để định đoạt tài sản của mình; để lại tài sản của mình cho người thừa kế theo pháp luật; hưởng di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật.

Người thừa kế không là cá nhân có quyền hưởng di sản theo di chúc.”

Theo đó, cá nhân được hưởng di sản thừa kế theo di chúc của người để lại di sản di chúc cho mà không phụ thuộc vào quan hệ giữa người để lại di sản và người được hưởng di sản thừa kế hoặc hưởng di sản thừa kế theo pháp luật.

Người thừa kế phải đáp ứng điều kiện theo quy định của Bộ luật Dân sự 2015 như sau:

Điều 613. Người thừa kế

Người thừa kế là cá nhân phải là người còn sống vào thời điểm mở thừa kế hoặc sinh ra và còn sống sau thời điểm mở thừa kế nhưng đã thành thai trước khi người để lại di sản chết. Trường hợp người thừa kế theo di chúc không là cá nhân thì phải tồn tại vào thời điểm mở thừa kế.”

 Đối với người thừa kế là cá nhân, các cá nhân được hưởng di sản thừa kế theo pháp luật theo quy định của Bộ luật Dân sự 2015 bao gồm:

Điều 651. Người thừa kế theo pháp luật

1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:

a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;

b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;

c) Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột; chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.

2. Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.

3. Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản”

Vậy, căn cứ theo quy định nêu trên, vợ hoặc chồng là người được hưởng di sản thừa kế theo pháp luật và ở hàng thừa kế thứ nhất. Trong trường hợp không kết hôn, theo quy định pháp luật hiện hành, việc sống chung như vợ chồng có thể được công nhận là vợ chồng theo pháp luật hôn nhân và gia đình và cùng với việc công nhận quan hệ vợ chồng thì với trường hợp này, người vợ hoặc người chồng cũng có quyền hưởng di sản thừa kế theo pháp luật khi người chồng hoặc vợ chết để lại. Cụ thể như sau:

Căn cứ Điểm b Khoản 4 Điều 2 Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP có quy định hướng dẫn thi hành “Người đang có vợ hoặc có chồng quy định tại điểm c khoản 2 Điều 5 của Luật hôn nhân và gia đình trong đó có trường hợp như sau:

“b) Người xác lập quan hệ vợ chồng với người khác trước ngày 03-01-1987 mà chưa đăng ký kết hôn và chưa ly hôn hoặc không có sự kiện vợ (chồng) của họ chết hoặc vợ (chồng) của họ không bị tuyên bố là đã chết;”

Như vậy, với trường hợp không đăng kí kết hôn nhưng chung sống như vợ chồng từ trước ngày 03/01/1987, thì quan hệ vợ chồng được công nhận. Do đó, vợ hoặc chồng trong trường hợp này có quyền hưởng thừa kế của chồng hoặc vợ.

Đối với trường hợp chung sống như vợ chồng từ ngày 03/01/1987 trở lại đây, pháp luật không công nhận quan hệ hôn nhân trong trường hợp này. Do đó, không kết hôn thì người chung sống như vợ chồng của người kia chỉ được hưởng di sản thừa kế khi được để lại di sản thừa kế theo di chúc.

Với những tư vấn trên đây Công ty Luật LVN mong rằng đã giải đáp được nhu cầu của quý khách, nếu quý khách vẫn còn chưa rõ hoặc có thông tin mới với trường hợp này, quý khách có thể liên hệ Bộ phận Tư vấn pháp luật Miễn phí số: 1900.0191 để được Luật sư hỗ trợ ngay lập tức.

Tham khảo thêm bài viết:


TỔNG ĐÀI LUẬT SƯ 1900 0191 - GIẢI ĐÁP PHÁP LUẬT TRỰC TUYẾN MIỄN PHÍ MỌI LÚC MỌI NƠI
Trong mọi trường hợp do tính cập nhật của văn bản biểu mẫu pháp luật và sự khác nhau của từng tình huống, việc tự áp dụng sẽ dẫn đến hậu quả không mong muốn.
Để được tư vấn hướng dẫn trực tiếp cho tất cả các vướng mắc, đưa ra lời khuyên pháp lý an toàn nhất, quý khách vui lòng liên hệ Luật sư - Tư vấn pháp luật qua điện thoại 24/7 (Miễn phí) số: 1900.0191 để gặp Luật sư, Chuyên viên tư vấn pháp luật.

Bộ phận tư vấn pháp luật – Công ty luật LVN

1900.0191