Trang chủ - Tư pháp xã không chấp nhận sửa giống như yêu cầu của bên địa chất thì làm thế nào

Tư pháp xã không chấp nhận sửa giống như yêu cầu của bên địa chất thì làm thế nào

Câu hỏi được gửi từ khách hàng: Tư pháp xã không chấp nhận sửa giống như yêu cầu của bên địa chất thì làm thế nào?

Mọi người ơi cho mình hỏi 1 chút ạ.. tình hình là nhà mình làm chuyển nhượng bìa đỏ của bác ruột chuyện nhượng lại cho.. trong các thủ tục thì có giấy xác nhận hôn nhân của chủ bìa đỏ. Mà bác mình chồng đã mất. Lúc đó chưa làm giấy chứng tử cũng không đăng ký kết hôn. Trong giấy xác nhận tình trạng hôn nhân được xã chứng nhận là đã có chồng có con nhưng chưa đăng ký kết hôn tại địa phương nào cả . mà bên địa chất huyện yêu cầu về xã chỉnh sửa lại là chồng đã mất năm 1975 hoặc ghi thêm vào từ năm 1975 đến nay còn độc thân nhưng bên tư pháp xã không chịu sữa mà bảo là “đã làm đúng theo luật pháp họ không chấp nhận thì chuyện của họ còn chị chị không sửa 1 từ nào nữa”.. mọi người tư vấn giúp em bên tư pháp làm như vậy có đúng không.. và em cần giải quyết vụ này thế nào ạ? Em cảm ơn!


Luật sư Tư vấn Luật Hộ tịch – Gọi 1900.0191

Dựa trên những thông tin được cung cấp và căn cứ vào các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành, các cam kết, thỏa thuận quốc tế được ký kết nhân danh Nhà nước, Chính phủ Việt Nam. Chúng tôi đưa ra trả lời như sau:

1./ Thời điểm pháp lý

Ngày 31 tháng 08 năm 2018

2./ Cơ sở Pháp Luật liên quan tới vấn đề cấp giấy xác nhận tình trạng hôn nhân

  • Luật Hộ tịch năm 2014;
  • Nghị định 123/2015/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành luật hộ tịch;
  • Thông tư liên tịch 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP hướng dẫn thi hành quy định của Luật hôn nhân và gia đình.

3./ Luật sư tư vấn

Việc cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân theo quy định pháp luật được thực hiện như sau:

Căn cứ Điều 22 Nghị định 123/2015/NĐ-CP quy định về thủ tục cấp giấy xác nhận tình trạng hôn nhân:

Điều 22. Thủ tục cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân

1. Người yêu cầu xác nhận tình trạng hôn nhân nộp Tờ khai theo mẫu quy định. Trường hợp yêu cầu xác nhận tình trạng hôn nhân nhằm mục đích kết hôn thì người yêu cầu phải đáp ứng đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình.

2. Trường hợp người yêu cầu xác nhận tình trạng hôn nhân đã có vợ hoặc chồng nhưng đã ly hôn hoặc người vợ hoặc chồng đã chết thì phải xuất trình hoặc nộp giấy tờ hợp lệ để chứng minh; nếu thuộc trường hợp quy định tại Khoản 2 Điều 37 của Nghị định này thì nộp bản sao trích lục hộ tịch tương ứng.

3. Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, công chức tư pháp – hộ tịch kiểm tra, xác minh tình trạng hôn nhân của người có yêu cầu. Nếu người yêu cầu có đủ điều kiện, việc cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân là phù hợp quy định pháp luật thì công chức tư pháp – hộ tịch trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân ký cấp 01 bản Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân cho người có yêu cầu. Nội dung Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân phải ghi đúng tình trạng hôn nhân của người có yêu cầu và mục đích sử dụng Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân.”

4. Trường hợp người yêu cầu xác nhận tình trạng hôn nhân đã từng đăng ký thường trú tại nhiều nơi khác nhau, người đó có trách nhiệm chứng minh về tình trạng hôn nhân của mình. Trường hợp người đó không chứng minh được thì công chức tư pháp – hộ tịch báo cáo Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã có văn bản đề nghị Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó đã từng đăng ký thường trú tiến hành kiểm tra, xác minh về tình trạng hôn nhân của người đó.

Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được văn bản đề nghị, Ủy ban nhân dân cấp xã được yêu cầu tiến hành kiểm tra, xác minh và trả lời bằng văn bản cho Ủy ban nhân dân cấp xã yêu cầu về tình trạng hôn nhân của người đó trong thời gian thường trú tại địa phương.

5. Ngay trong ngày nhận được văn bản trả lời, nếu thấy đủ cơ sở, Ủy ban nhân dân cấp xã cấp Giy xác nhận tình trạng hôn nhân cho người yêu cu theo quy định tại Khoản 3 Điều này.

6. Trường hợp cá nhân yêu cầu cấp lại Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân để sử dụng vào mục đích khác hoặc do Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân đã hết thời hạn sử dụng theo quy định tại Điều 23 của Nghị định này, thì phải nộp lại Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân đã được cấp trước đó.”

Bên cạnh đó, căn cứ Điểm b Khoản 4 Điều 2 Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP, quan hệ vợ, chồng được xác lập từ trước ngày 03/01/1987, không đăng ký kết hôn thì vẫn được Nhà nước thừa nhận.

Do đó, trong trường hợp này, người thực hiện xác nhận tình trạng hôn nhân có quyền yêu cầu xác nhận về tình trạng hôn nhân của người này là đã có chồng nhưng người chồng đã chết vào trong giấy xác nhận tình trạng hôn nhân.

Để thực hiện được điều này, người xác nhận cần thực hiện thủ tục đăng ký khai tử cho chồng mình theo quy định, cụ thể:

Căn cứ Điều 34 Luật Hộ tịch 2014 quy định về thủ tục đăng ký khai tử như sau:

“1. Người có trách nhiệm đi đăng ký khai tử nộp tờ khai theo mẫu quy định và Giấy báo tử hoặc giấy tờ khác thay giấy báo tử cho cơ quan đăng ký hộ tịch.

2.Ngay sau khi nhận giấy tờ theo quy định tại khoản 1 Điều này, nếu thấy việc khai tử đúng thì công chức tư pháp – hộ tịch ghi nội dung khai tử vào Sổ hộ tịch, cùng người đi khai tử ký tên vào Sổ hộ tịch và báo cáo Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã cấp trích lục cho người đi khai tử.

Công chức tư pháp – hộ tịch khóa thông tin hộ tịch của người chết trong Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử.”

Căn cứ Điều 4 Nghị định 123/2015/NĐ-CP, Giấy báo tử được cấp như sau:

– Đối với người chết tại cơ sở y tế thì Thủ trưởng cơ sở y tế cấp Giấy báo tử;

– Đối với người chết do thi hành án tử hình thì Chủ tịch Hội đồng thi hành án tử hình cấp giấy xác nhận việc thi hành án tử hình thay Giấy báo tử;

– Đối với người bị Tòa án tuyên bố là đã chết thì Bản án, quyết định có hiệu lực của Tòa án thay Giấy báo tử;

– Đối với người chết trên phương tiện giao thông, chết do tai nạn, bị giết, chết đột ngột hoặc chết có nghi vn thì văn bản xác nhận của cơ quan công an hoặc kết quả giám định của Cơ quan giám định pháp y thay Giấy báo tử;

– Đối với người chết không thuộc một trong các trường hợp quy định tại các Điểm a, b, c và d của Khoản này thì Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó chết có trách nhiệm cấp Giấy báo t.

Đối với trường hợp người đã chết từ trước năm 1975 mà chưa làm thủ tục khai tử và cũng không cung cấp được giấy báo tử, người thực hiện thủ tục khai tử tại thời điểm này có thể cung cấp các bằng chứng ghi nhận việc người này đã chất như sổ hộ khẩu (nếu có ghi thông tin) hoặc gửi kèm bản cam đoan cam kết các thông tin khai tử đều đúng sự thật.

Như vậy, với trường hợp của bạn, bác bạn có quyền yêu cầu xác nhận nội dung về người chồng đã chết trong giấy xác nhận tình trạng hôn nhân nêu trên. Để thực hiện thủ tục này, bác bạn cần cung cấp được thông tin về khai tử gửi đến cho cán bộ hộ tịch thực hiện việc xác nhận. Trường hợp người đó vẫn từ chối thực hiện, bạn có quyền khiếu nại tới chủ tịch Ủy ban nhân dân để được giải quyết và bảo vệ quyền lợi của mình.

Với những tư vấn về câu hỏi Tư pháp xã không chấp nhận sửa giống như yêu cầu của bên địa chất thì làm thế nào, Công ty Luật LVN mong rằng đã có thể giải đáp được nhu cầu của quý khách, nếu quý khách vẫn còn chưa rõ hoặc có thông tin mới với trường hợp trên, quý khách có thể liên hệ Bộ phận Tư vấn pháp luật Miễn phí số: 1900.0191 để được Luật sư hỗ trợ ngay lập tức.

Tham khảo thêm bài viết:


TỔNG ĐÀI LUẬT SƯ 1900 0191 - GIẢI ĐÁP PHÁP LUẬT TRỰC TUYẾN MIỄN PHÍ MỌI LÚC MỌI NƠI
Trong mọi trường hợp do tính cập nhật của văn bản biểu mẫu pháp luật và sự khác nhau của từng tình huống, việc tự áp dụng sẽ dẫn đến hậu quả không mong muốn.
Để được tư vấn hướng dẫn trực tiếp cho tất cả các vướng mắc, đưa ra lời khuyên pháp lý an toàn nhất, quý khách vui lòng liên hệ Luật sư - Tư vấn pháp luật qua điện thoại 24/7 (Miễn phí) số: 1900.0191 để gặp Luật sư, Chuyên viên tư vấn pháp luật.

Bộ phận tư vấn pháp luật – Công ty luật LVN