Trang chủ - Luật đã cụ thể hơn quyền của lao động giúp việc gia đình

Luật đã cụ thể hơn quyền của lao động giúp việc gia đình

Luật đã cụ thể hơn quyền của lao động giúp việc gia đình

1. Thực trạng lao động giúp việc gia đình (GVGĐ)trong trời gian qua

Sau gần 30 năm đổi mới, Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn trên tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội. Nền kinh tế thị trường phát triển khá nhanh và ổn định, đời sống của các tầng lớp nhân dân được cải thiện rõ rệt, nhất là ở các đô thị. Số lượng các gia đình có mức thu nhập ổn định và khá giả ngày càng tăng nhanh, do đó nhu cầu tiếp cận và sử dụng các loại dịch vụ xã hội của các gia đình ở đô thị ngày càng trở nên phổ biến. Nhu cầu cần có người giúp việc gia đình để có thời gian tập trung hơn cho công việc và nâng cao chất lượng cuộc sống đang trở thành nhu cầu thực tế của nhiều gia đình. Tuy nhiên, bên cạnh mặt tích cực thì quy luật của nền kinh tế thị trường cũng dẫn đến sự phân hóa giầu nghèo, phân tầng xã hội.

Hiện nay, nước ta có hơn 200.000 lao động GVGĐ, trong đó lao động GVGĐ là nữ chiếm tới hơn 90%. Ở các thành phố lớn, nhu cầu về lực lượng lao động này đang ngày một tăng. Nguồn cung ứng lao động chủ yếu ở nông thôn.

Theo Báo cáo nghiên cứu của Trung tâm nghiên cứu Giới, Gia đình và Phát triển cộng đồng nêu rõ vai trò của lao động GVGĐ trong việc giải quyết việc làm, giải phóng phụ nữ và đóng góp giá trị kinh tế cho các quốc gia. Đặc biệt, dự báo số lượng lao động GVGĐ trong năm 2015 sẽ tăng khoảng 63% so với năm 2008 (từ 157.000 lên 246.000 lao động) với 98,7% lao động là nữ giới. Tuy nhiên, thực trạng lao động GVGĐ tại Việt Nam vẫn bị đánh giá thấp và ít được pháp luật đề cập đến.

Lâu nay, việc thuê người giúp việc thường theo thỏa thuận miệng mà không hề có bất cứ giấy tờ, hợp đồng về thù lao, giờ giấc làm việc, cụ thể công việc phải làm…, khi xảy ra mâu thuẫn, phần lớn người giúp việc phải nhận thua thiệt về mình. Không những thế, hiện nay ở Việt Nam hầu như người GVGĐ không tham gia bảo hiểm xã hội hoặc một loại hình bảo hiểm nào (chỉ có 2% người giúp việc được gia chủ mua cho bảo hiểm y tế và 0,83% người giúp việc được gia chủ mua cho bảo hiểm xã hội).

Trong khi đó, pháp luật lao động nêu rõ: Người sử dụng lao động trả cho người GVGĐ khoản tiền bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế theo quy định của pháp luật, để người lao động tự lo bảo hiểm[1]. Tuy nhiên, với điều khoản này, rất ít gia chủ và người giúp việc biết đến và hầu như không thể thực hiện được. Mặt khác, lao động GVGĐ đa phần là lao động nông nhàn, chưa được đào tạo, thiếu những kỹ năng cơ bản khi làm những công việc mà họ đảm nhận. Còn người đi thuê lao động vì quá cần người làm mà không tìm hiểu kỹ xem người giúp việc có đủ năng lực và kỹ năng để đáp ứng công việc hay không. Sự lỏng lẻo trong mối quan hệ giữa người lao động và người sử dụng lao động trong loại hình nghề nghiệp đặc thù này là nguyên nhân khiến cho thị trường lao động giúp việc thiếu tính chuyên nghiệp. Các chủ sử dụng lao động hầu hết tìm người giúp việc qua quan hệ cá nhân, ít qua trung tâm giới thiệu việc làm.

Vì vậy, người GVGĐ hầu như không được đào tạo kỹ năng nên chất lượng lao động không cao. Theo nghiên cứu “Việc làm bền vững đối với lao động giúp việc gia đình ở Việt Nam” của ILO tại Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh năm 2011cho thấy: Chỉ có 16/600 (2,8%) người đã được đào tạo về GVGĐ.

Yêu cầu xây dựng văn bản quy phạm pháp luật cụ thể hóa vấn đề lao động GVGĐ để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động, người sử dụng lao động GVGĐ, nâng cao chất lượng và kỹ năng của lao động GVGĐ, cũng như việc quản lý các cơ sở môi giới, đào tạo giúp việc là rất cần thiết. Trong những năm qua, pháp luật lao động và việc làm đã và đang được từng bước hoàn thiện với những quy định nhằm bảo vệ người lao động nói chung và lao động GVGĐ nói riêng trong các quan hệ lao động và việc làm.

2. Các quy định của pháp luật liên quan đến người sử dụng lao động và lao động là người GVGĐ

2.2.1 Bộ luật Lao động năm 1994

Trước năm 2012, lao động GVGĐ chỉ được đề cập tại Điều 5, Điều 28, Điều 139 Bộ luật Lao động năm 1994 về vấn đề hợp đồng lao động, thời gian làm việc, nghỉ ngơi, trợ cấp, ứng xử giữa người của người sử dụng lao động. Tuy nhiên, những nội dung này còn quy định chung chung, không có hướng dẫn cụ thể và chế tài đi kèm.

2.2.2 Bộ luật Lao động năm 2012

Bộ luật Lao động năm 2012, có hiệu lực kể từ ngày 1/5/2013, lần đầu tiên giúp việc gia đình được công nhận là một nghề và được luật hóa, giúp cải thiện điều kiện, chế độ làm việc cho người lao động, đồng thời bảo vệ quyền của họ và cả người sử dụng lao động. Lao động GVGĐ được quy định với một mục riêng trong Mục 5, Chương 11 gồm 5 điều từ Điều 179 đến Điều 183 Bộ luật Lao động năm 2012. Cụ thể:

Thứ nhất, quy định đối với người sử dụng lao động

Người sử dụng lao động phải trả cho người GVGĐ khoản tiền bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế theo quy định của pháp luật để người lao động tự lo bảo hiểm[2]; Tôn trọng danh dự, nhân phẩm của người GVGĐ[3]; Bố trí chỗ ăn, ở sạch sẽ, hợp vệ sinh cho người GVGĐ, nếu có thoả thuận[4];

Tạo cơ hội cho người GVGĐ được tham gia học văn hóa, học nghề[5]; Trả tiền tàu xe đi đường khi người GVGĐ thôi việc về nơi cư trú (trừ trường hợp người GVGĐ chấm dứt hợp đồng lao động trước thời hạn[6]). Đồng thời, người sử dụng không được vi phạm những hành vi bị nghiêm cấm đối với người sử dụng lao động như: Ngược đãi, quấy rối tình dục, cưỡng bức lao động, dùng vũ lực đối với lao động là người GVGĐ; Giao việc cho người GVGĐ không theo hợp đồng lao động; Giữ giấy tờ tùy thân của người lao động[7]

Thứ hai, quy định đối với lao động GVGĐ và phạm vi công việc

Theo quy định của luật, lao động là người GVGĐ là người lao động làm thường xuyên các công việc trong gia đình của một hoặc nhiều hộ gia đình. Các công việc trong gia đình bao gồm công việc nội trợ, quản gia, chăm sóc trẻ, chăm sóc người bệnh, chăm sóc người già, lái xe, làm vườn và các công việc khác cho hộ gia đình nhưng không liên quan đến hoạt động thương mại[8]. Người lao động GVGĐ phải có nghĩa vụ sau[9]:

Một là, thực hiện đầy đủ thỏa thuận mà hai bên đã ký kết trong hợp đồng lao động;

Hai là, phải bồi thường theo thoả thuận hoặc theo quy định của pháp luật nếu làm hỏng, mất tài sản của người sử dụng lao động;

Ba là, thông báo kịp thời với người sử dụng lao động về những khả năng, nguy cơ gây tai nạn, đe dọa an toàn, sức khỏe, tính mạng, tài sản của gia đình người sử dụng lao động và bản thân;

Bốn là, tố cáo với cơ quan có thẩm quyền nếu người sử dụng lao động có hành vi ngược đãi, quấy rối tình dục, cưỡng bức lao động hoặc có những hành vi khác vi phạm pháp luật.

Thứ ba, quy định về hợp đồng lao động

Người sử dụng lao động và người lao động phải ký kết hợp đồng lao động theo quy định của pháp luật lao động. Hình thức hợp đồng lao động phải bằng văn bản gồm những nội dung[10]: Thời hạn của hợp đồng lao động, hình thức trả lương, kỳ hạn trả lương, thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi, chỗ ở…. (do hai bên thỏa thuận). Người sử dụng lao động và người lao động là người GVGĐ phải thực hiện đầy đủ những thỏa thuận đã giao kết trong hợp động lao động.

Bộ luật Lao động năm 2012 đã có hiệu lực thi hành gần một năm (từ 01/5/2013). Tuy nhiên, những quy định về lao động là người GVGĐ vẫn chỉ là những quy định khung chưa có hướng dẫn cụ thể, nên việc thực hiện trách nhiệm, quyền lợi của người lao động giúp việc và người sử dụng lao động chưa được bảo đảm. Các vấn đề như hợp đồng lao động, thời gian nghỉ ngơi, các khoản trợ cấp, ứng xử của gia chủ với lao động giúp việc gia đình đã được quy định chung nhưng không hướng dẫn cụ thể và không có chế tài đi kèm để bảo đảm việc thực thi của luật pháp.

2.2.3 Quyền của người lao động trong Hiến pháp năm 2013

Mặc dù quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động (trong đó có lao động là người GVGĐ) đã được nhiều đạo luật ghi nhận, bảo vệ và bảo đảm thực hiện như: Bộ luật Lao động năm 2012, Luật Bảo hiểm xã hội năm 2006, Luật Bảo hiểm y tế năm 2008…, nhưng đây là lần đầu tiên, sự khẳng định nghĩa vụ của Nhà nước phải bảo vệ quyền của người lao động đã được ghi nhận trong lịch sử lập hiến và là hành lang pháp lý quan trọng – Hiến pháp năm 2013.

Với việc hoán đổi vị trí chế định quyền con người từ Chương V trong Hiến pháp năm 1992 thành Chương II trong Hiến pháp năm 2013 cùng với những nội dung rất mới của chế định này đã khẳng định quan điểm nhất quán và sự nhận thức đầy đủ, sâu sắc hơn của Đảng và Nhà nước về tầm quan trọng của vấn đề quyền con người, quyền công dân trong mọi lĩnh vực của đời sống nói chung và trong đó có lĩnh vực lao động, việc làm, bảo hiểm ý tế, bảo hiểu xã hội…, cụ thể:

Một là, Nhà nước bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động, người sử dụng lao động và tạo điều kiện xây dựng quan hệ lao động tiến bộ, hài hòa và ổn định[11]

Hai là, Hiến pháp năm 2013 đã khẳng định quyền làm việc, được tự do lựa chọn nghề nghiệp, việc làm và nơi làm việc của công dân[12] là một quyền tự nhiên của con người, được Nhà nước bảo đảm, hoàn toàn phù hợp với tinh thần chung của Công ước số 122 – Công ước về chính sách việc làm mà Việt Nam đã phê chuẩn tham gia.

Ba là, Nhà nước tôn trọng và bảo đảm thực hiện quyền được hưởng các điều kiện làm việc công bằng cho người lao động làm công ăn lương, quyền thụ hưởng các điều kiện làm việc công bằng, an toàn, được hưởng lương, chế độ nghỉ ngơi…[13]. Hiểu một cách khái quát về quyền thụ hưởng các điều kiện làm việc công bằng là, với bất kỳ người lao động nào, dù là nam hay nữ, không phân biệt dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo… khi thực hiện cùng một công việc, sẽ có các cơ hội được hưởng các điều kiện làm việc ngang bằng nhau, không thiên vị. Bên cạnh đó, chủ thể thụ hưởng quyền này rất rộng, không bị giới hạn trong vấn đề giới tính (lao động nữ, nam) mà còn là những người lao động làm công ăn lương khác như người lao động thuộc các dân tộc khác nhau, tín ngưỡng, tôn giáo khác nhau,…  nghiêm cấm các hành vi phân biệt đối xử, cưỡng bức lao động, sử dụng nhân công dưới độ tuổi lao động tối thiểu do luật định[14].

Bốn là, quyền được bảo vệ sức khỏe, người lao động, không phụ thuộc vào lao động có quan hệ lao động hay lao động tự do, giới tính, thành phần giàu – nghèo trong xã hội, đều có quyền bình đẳng trong việc sử dụng các dịch vụ y tế[15].

3. Nghị định số 27/2014/NĐ-CP ngày 07/4/2014[16]

Ngày 07/4/2014, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã ký ban hành Nghị định số 27/2014/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Bộ luật Lao động về lao động là người giúp việc gia đình. Nghị định số 27/2014/NĐ-CP được ban hành sẽ có hiệu lực kể từ ngày 25/5/2014. Nghị định quy định chi tiết một số quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm của người sử dụng lao động, lao động là người giúp việc gia đình, cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan trong việc thực hiện hợp đồng lao động, tiền lương, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi, an toàn lao động, vệ sinh lao động, kỷ luật lao động, trách nhiệm vật chất và giải quyết tranh chấp lao động theo quy định của Bộ luật Lao động năm 2012.

Những nội dung cơ bản của Nghị định số 27/2014/NĐ-CP ngày 07/4/2014:

Thứ nhất,quy định về tiền lương

Cụ thể, mức tiền lương do hai bên thỏa thuận và ghi trong hợp đồng lao động. Mức tiền lương (bao gồm cả chi phí ăn, ở của người lao động sống tại gia đình người sử dụng lao động nếu có) không được thấp hơn mức lương tối thiểu vùng do Chính phủ quy định. Người sử dụng lao động và người lao động thỏa thuận mức chi phí ăn, ở hằng tháng của người lao động (nếu có), nhưng không vượt quá 50% mức tiền lương trong hợp đồng lao động. Hình thức trả lương, thời hạn trả lương do hai bên thỏa thuận[17].

Trường hợp người sử dụng lao động yêu cầu người lao động làm việc ngoài thời gian ghi trong hợp đồng lao động, làm việc vào ngày nghỉ lễ, tết, ngày nghỉ có hưởng lương thì người sử dụng lao động phải trả tiền lương làm thêm giờ theo quy định[18].

Người sử dụng lao động có trách nhiệm trả đủ tiền lương cho người lao động trong trường hợp người lao động phải ngừng việc do lỗi của người sử dụng lao động, trừ trường hợp hai bên có thỏa thuận khác[19].

Người sử dụng lao động không phải trả lương cho người lao động trong trường hợp người lao động phải ngừng việc mà không do lỗi của người sử dụng lao động, trừ trường hợp hai bên có thỏa thuận khác[20].

Người sử dụng lao động chỉ được khấu trừ tiền lương của người lao động để bồi thường thiệt hại do làm hỏng dụng cụ, thiết bị hoặc làm mất tài sản của người sử dụng lao động theo nội dung của hợp đồng lao động[21].

Mức khấu trừ tiền lương hằng tháng do hai bên thỏa thuận nhưng không quá 30% mức tiền lương hằng tháng đối với người lao động không sống tại gia đình người sử dụng lao động; không quá 60% mức tiền lương còn lại sau khi trừ chi phí tiền ăn, ở hằng tháng của người lao động (nếu có) đối với người lao động sống tại gia đình người sử dụng lao động. Khi khấu trừ tiền lương người sử dụng lao động phải thông báo cho người lao động biết[22].

Thứ hai,quy định về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế cho người giúp việc

Về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, theo Nghị định, người sử dụng lao động có trách nhiệm chi trả thêm cùng lúc với kỳ trả lương của người lao động một khoản tiền tương đương với mức đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm y tế thuộc trách nhiệm của người sử dụng lao động theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế để người lao động tự lo bảo hiểm[23].

Trường hợp người lao động sống cùng gia đình người sử dụng lao động bị ốm, bị bệnh, người sử dụng lao động tạo điều kiện để người lao động nghỉ ngơi, khám, chữa bệnh. Chi phí khám, chữa bệnh do người lao động chi trả, trừ trường hợp hai bên có thỏa thuận khác[24].  

Người sử dụng lao động không phải trả lương cho những ngày người lao động phải nghỉ việc do bị ốm, bị bệnh[25].

Thứ 3, quy định về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi

Đối với người lao động sống cùng gia đình người sử dụng lao động, thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi do hai bên thỏa thuận nhưng người lao động phải được nghỉ ít nhất 8 giờ, trong đó có 6 giờ nghỉ liên tục trong 24 giờ liên tục[26].

Thời giờ làm việc đối với lao động chưa thành niên từ đủ 15 tuổi đến dưới 18 tuổi không được quá 8 giờ trong 1 ngày và 40 giờ trong 1 tuần; thời giờ làm việc của người dưới 15 tuổi không được quá 4 giờ trong 1 ngày và 20 giờ trong 1 tuần và không được sử dụng làm thêm giờ, làm việc vào ban đêm[27].

Mỗi tuần, người lao động được nghỉ ít nhất 24 giờ liên tục. Trong trường hợp không thể bố trí được thì người sử dụng lao động phải có trách nhiệm bảo đảm cho người lao động được nghỉ tính bình quân 1 tháng ít nhất 4 ngày. Thời điểm nghỉ do hai bên thỏa thuận[28].

Người lao động có đủ 12 tháng làm việc cho một người sử dụng lao động thì được nghỉ hằng năm là 12 ngày làm việc và được hưởng nguyên lương. Thời điểm nghỉ do hai bên thỏa thuận. Người lao động có thể thỏa thuận với người sử dụng lao động để nghỉ hằng năm thành nhiều lần hoặc nghỉ gộp tối đa 3 năm một lần[29].

Người lao động được nghỉ làm việc, hưởng nguyên lương trong những ngày nghỉ lễ, tết theo quy định. Khi nghỉ hằng năm, người lao động được ứng trước một khoản tiền ít nhất bằng tiền lương cho những ngày nghỉ[30].

Thứ tư, quy định về An toàn lao động, vệ sinh lao động

*Đối với người sử dụng lao động phải: Có trách nhiệm hướng dẫn cách sử dụng trang thiết bị, máy móc, đồ dùng có liên quan đến công việc của người lao động, các biện pháp phòng chống cháy nổ cho người lao động; trang bị phương tiện bảo vệ cá nhân cho người lao động trong quá trình làm việc. Hằng năm, người sử dụng lao động phải bố trí để người lao động khám sức khỏe định kỳ. Trường hợp cần thiết, người sử dụng lao động yêu cầu người lao động phải khám sức khỏe. Chi phí khám sức khỏe do người sử dụng lao động chi trả, trừ trường hợp hai bên có thỏa thuận khác[31].

*Đối với người lao động phải: Có trách nhiệm chấp hành đúng hướng dẫn sử dụng trang thiết bị, máy móc, đồ dùng và phòng chống cháy nổ; bảo đảm các yêu cầu vệ sinh môi trường của hộ gia đình, dân cư nơi cư trú[32]

Như vậy, cùng với những quy định của Bộ luật Lao động năm 2012, Hiến pháp năm 2013, Nghị định số 27/2014/NĐ-CP được ban hành là một trong những quyết sách đúng đắn, kịp thời thể hiện sự quan tâm của Đảng và Nhà nước ta đối với một trong những lĩnh vực quan trọng của đời sống xã hội – lĩnh vực lao động, việc làm. Đồng thời củng cố thêm hành lang pháp lý cụ thể hơn một số quyền của người lao động GVGĐ, bảo đảm mối quan hệ hài hòa giữa người lao động GVGĐ và người sử dụng lao động trong việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ đã được pháp luật quy định.

“Tăng cường tính bình đẳng trong thị trường lao động thông qua hỗ trợ tốt hơn người nghèo và các đối tượng dễ bị tổn thương tham gia đào tạo, có việc làm, nâng cao điều kiện làm việc và cải thiện cuộc sống, mở rộng tỷ lệ tham gia bảo hiểm tự nguyện”[33], góp phần xây dựng một xã hội hài hòa, văn minh, không có sự loại trừ, phân biệt, đảm bảo sự đoàn kết, chia sẻ và tương trợ cộng đồng đối với các lĩnh vực của đời sống, thúc đẩy sự đồng thuận, bình đẳng và công bằng xã hội…

Hiến pháp năm 2013 đã có hiệu lực từ ngày 01/1/2014, là thành tựu của gần 30 năm đổi mới của đất nước, một bước tiến lớn trong nhận thức và tư duy lý luận của Đảng và Nhà nước về vị trí và vai trò của Hiến pháp trong việc công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm thực hiện các quyền con người, quyền công dân. Các quyền con người trong lĩnh vực kinh tế – xã hội, lao động, việc làm… trong Hiến pháp năm 2013 cũng có những thành tựu đổi mới đáng kể. Quốc hội đã có Nghị quyết về việc thi hành Hiến pháp[34].

Theo đó, Nghị quyết quy định các luật, pháp lệnh và các văn bản quy phạm pháp luật khác được ban hành liên quan đến quyền con người, quyền công dân, quyền được lao động, làm việc và nghỉ ngơi… (trong đó có Bộ luật Lao động năm 2012; Luật Bảo hiểm xã hội năm 2006; Luật Bảo hiểm y tế năm 2008; Luật Dạy nghề năm 2006; Luật Việc làm 2013 sẽ có hiệu lực kể từ ngày 01/1/2015…) trước ngày Hiến pháp năm 2013 có hiệu lực phải được rà soát lại để sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành mới phù hợp với các quy định của Hiến pháp năm 2013, trong đó phải: “Ưu tiên ban hành các luật về quyền con người” – Tôn trọng, bảo vệ quyền con người, quyền công dân là mục tiêu xuyên xuốt của Nhà nước ta”[35]./.

Việt Tiến

Tài liệu tham khảo:

1. Hiến Pháp năm 1992; Hiến pháp năm 2013;

2. Bộ luật Lao động năm 1994; Bộ luật Lao động năm 2012;

3. Luật Bảo hiểm xã hội năm 2006;

4. Luật Bảo hiểm y tế năm 2008;

5. Luật Dạy nghề năm 2006;

6. Luật Việc làm năm 2013.


[1]Khoản 2, Điều 181 – Bộ luật Lao động năm 2012 

[2]Khoản 2, Điều 181. Nghĩa vụ của người sử dụng lao động – Bộ luật Lao động năm 2012

[3]Khoản 3, Điều 181. Nghĩa vụ của người sử dụng lao động – Bộ luật Lao động năm 2012

[4]Khoản 4, Điều 181. Nghĩa vụ của người sử dụng lao động – Bộ luật Lao động năm 2012

[5]Khoản 5, Điều 181. Nghĩa vụ của người sử dụng lao động – Bộ luật Lao động năm 2012

[6]Khoản 6, Điều 181. Nghĩa vụ của người sử dụng lao động – Bộ luật Lao động năm 2012

[7]Điều 183. Những hành vi bị nghiêm cấm đối với người sử dụng lao động – Bộ luật Lao động năm 2012

[8]Khoản 1, Điều 179 – Bộ luật Lao động năm 2012

[9]Điều 182. Nghĩa vụ của người lao động  – Bộ luật Lao động năm 2012

[10]Khoản 1, Điều 23; Điều 180 – Bộ luật Lao động năm 2012

[11]Khoản 2 Điều 57, Hiến pháp năm 2013

[12]Khoản 1, Điều 35, Hiến pháp năm 2013

[13]Khoản 2, Điều 35, Hiến pháp năm 2013

[14]Khoản 3, Điều 35, Hiến pháp năm 2013

[15]Khoản 1, Điều 38, Hiến pháp năm 2013

[16]Nghị định số 27/2014/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Bộ luật Lao động về lao động là người giúp việc gia đình –

http://www.chinhphu.vn/portal/page/portal/chinhphu/hethongvanban?class_id=1&_page=1&mode=detail&document_id=173199 

[17]Khoản 1, Điều 15 Nghị định số 27/NĐ-CP ngày 07/4/2014

[18]Khoản 2, Điều 15 Nghị định số 27/NĐ-CP ngày 07/4/2014

[19]Khoản 1, Điều 16 Nghị định số 27/NĐ-CP ngày 07/4/2014

[20]Khoản 2, Điều 16 Nghị định số 27/NĐ-CP ngày 07/4/2014

[21]Khoản 1, Điều 17 Nghị định số 27/NĐ-CP ngày 07/4/2014

[22]Khoản 2,3 Điều 17 Nghị định số 27/NĐ-CP ngày 07/4/2014

[23]Điều 19 Nghị định số 27/NĐ-CP ngày 07/4/2014

[24]Khoản 2, Điều 19 Nghị định số 27/NĐ-CP ngày 07/4/2014 

[25]Khoản 3, Điều 19 Nghị định số 27/NĐ-CP ngày 07/4/2014

[26]Khoản 1, Điều 21 Nghị định số 27/NĐ-CP ngày 07/4/2014  

[27]Khoản 2, Điều 21, Nghị định số 27/NĐ-CP ngày 07/4/2014 và khoản 2, Điều 163 của Bộ luật Lao động

[28]Điều 22, Nghị định số 27/NĐ-CP ngày 07/4/2014

[29]Khoản 1, Điều 23, Nghị định số 27/NĐ-CP ngày 07/4/2014

[30]Khoản 2, khoản 3, Điều 23, Nghị định số 27/NĐ-CP ngày 07/4/2014 và Điều 115 của Bộ luật Lao động

[31]Khoản 1, khoản 3, Điều 24, Nghị định số 27/NĐ-CP ngày 07/4/2014

[32]Khoản 2, Điều 24, Nghị định số 27/NĐ-CP ngày 07/4/2014  

[33]Mục tiêu số 1 – Chiến lược An sinh xã hội Việt Nam giai đoạn 2011 – 2020

[34]Nghị quyết số 64/2013/QH 13 ngày 28/11/2013 Nghị quyết quy định một số điểm thi hành Hiến pháp Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam –

http://www.moj.gov.vn/vbpq/Lists/Vn%20bn%20php%20lut/View_Detail.aspx?ItemID=28812

[35]Xem: Ưu tiên ban hành các luật về quyền con người –

http://www.moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/hoat-dong-cua-Bo-Tu-Phap.aspx?ItemID=6344

Tham khảo thêm các bài viết:


TỔNG ĐÀI LUẬT SƯ 1900 0191 - GIẢI ĐÁP PHÁP LUẬT TRỰC TUYẾN MIỄN PHÍ MỌI LÚC MỌI NƠI
Trong mọi trường hợp do tính cập nhật của văn bản biểu mẫu pháp luật và sự khác nhau của từng tình huống, việc tự áp dụng sẽ dẫn đến hậu quả không mong muốn.
Để được tư vấn hướng dẫn trực tiếp cho tất cả các vướng mắc, đưa ra lời khuyên pháp lý an toàn nhất, quý khách vui lòng liên hệ Luật sư - Tư vấn pháp luật qua điện thoại 24/7 (Miễn phí) số: 1900.0191 để gặp Luật sư, Chuyên viên tư vấn pháp luật.

Bộ phận tư vấn pháp luật – Công ty luật LVN

1900.0191